Khác

Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh (1)

Là một cán bộ chỉ huy chiến đấu, cuộc đời của Thiếu tướng Hoàng Đan luôn gắn với chiến trường. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông đã đảm đương nhiều chức vụ trong quân đội: cán bộ trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, phó tư lệnh quân đoàn. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, ông là tư lệnh quân đoàn. Ông cũng là một nhà giáo quân sự, một người làm công tác quản lý khoa học. Một mảng đời quan trọng của ông gắn bó vớ

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
PHẦN THỨ NHẤT

VỀ NGƯỜI CHỈ HUY VÀ CHỈ HUY TÁC CHIẾN, MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NGHỆ THUẬT TÁC CHIẾN


NGƯỜI CHỈ HUY VÀ CHỈ HUY TÁC CHIẾN

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trải qua hai cuộc chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thống nhất ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, tôi đã qua chỉ huy ở nhiều cấp từ trung đội đến quân đoàn. Qua thực tế công tác và chiến đấu của bản thân cũng như qua những gì tôi trao đổi qua bạn bè, cấp trên, cấp dưới đã làm trong xây dựng và chỉ huy tác chiến, tôi thấy cần thiết viết lại những gì mình tự cho là những kinh nghiệm có ích cho cán bộ của lực lượng vũ trang nhân dân. Tài liệu tôi viết gồm hai phần: Phần một nói về công tác đào tạo người chỉ huy, phần hai nói về những việc mà người chỉ huy cần làm để giành thắng lợi trong tác chiến. Đây không phải là một công trình khoa học, chỉ là ý kiến của một cá nhân, tất nhiên có nhiều hạn chế, thậm chí có nhiều ý kiến còn phải tranh luận lại. Tôi chỉ mong những gì viết ra có thể giúp ích một phần cho việc cùng nhau trao đổi để làm phong phú thêm kiến thức về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự.

Hà Nội, năm mở đầu thiên niên kỷ mới.
TÁC GIẢ

Phần một

NGƯỜI CHỈ HUY

I. CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI CHỈ HUY

Để có một đội ngũ cán bộ chỉ huy nắm vững đường lối quân sự của Đảng, nắm vững nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn trong chỉ huy tác chiến, Đảng đã tiến hành một loạt biện pháp:

- Đào tạo người chỉ huy tại các nhà trường.

- Rèn luyện người chỉ huy tại chiến trường.

- Động viên, tạo điều kiện cho cán bộ tự học.

1. Đào tạo người chỉ huy tại các nhà trường.

- Đào tạo người chỉ huy tại các trường trong nước.

Ngay từ thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng ta đã mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày. Sau khi giành được chính quyền năm 1945, Đảng đã mở nhiều trường để đào tạo cán bộ quân sự. Bộ Quốc phòng có trường đào tạo sĩ quan (cán bộ chỉ huy trung đội và đại đội). Các chi đội (trung đoàn), các quân khu đều có trường đào tạo hạ sĩ quan (cán bộ chỉ huy tiểu đội). Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng vũ trang ta đã có một hệ thống nhà trường để đào tạo cán bộ chỉ huy ở tất cả các cấp của các quân binh chủng.

Nội dung huấn luyện người chỉ huy bộ binh (bộ đội binh chủng hợp thành) ngày càng được hoàn chỉnh. Trong phạm vi bài này, tôi xin nêu lên một số nội dung tâm đắc:

+ Học tập về chính trị.

Điều tôi muốn nhấn mạnh trước hết là các nhà trường đều dành thời gian thích đáng để học tập về chính trị. Về chính trị, các nhà trường đều dạy về triết học, về lịch sử Đảng, về công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Ba bộ môn chủ yếu trên đều cần thiết. Ở đây tôi muốn nói đến sự cần thiết của học triết học. Nhờ học sâu về triết học, cán bộ chỉ huy có được tư duy biện chứng trong mọi công tác nói chung và công tác chỉ huy nói riêng.

Người chỉ huy các trận đánh, các chiến dịch, trước hết phải đánh giá đúng tình hình địch, tình hình ta. Đánh giá địch không chính xác là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong trận đánh. Chỉ thấy địch yếu, dễ dẫn đến chủ quan. Chỉ thấy địch mạnh, dễ dẫn đến do dự thiếu quyết tâm tiến công. Có tư duy biện chứng khi đánh giá địch, thấy hết, thấy đúng mặt mạnh, mặt yếu của chúng mới tìm được biện pháp phù hợp để hạn chế mặt mạnh, khoét sâu mặt yếu, xác định quyết tâm có cơ sở khoa học để đánh thắng địch và xử lý đúng các tình huống khác nhau khi có sự biến đổi đột xuất. Đánh giá đúng tình hình địch có khó khăn,nhưng đánh giá đúng tình hình ta cũng không đơn giản. Bộ đội ta rất dũng cảm trong chiến đấu. Phải phân tích sâu tình hình tư tưởng bộ đội. Tư tưởng bộ đội có thể thay đổi sau mỗi trận đánh. Khi đánh thắng dễ dàng, có thể phát sinh tư tưởng chủ quan. Sau một trận đánh thất bại, thương vong nhiều, có thể phát sinh tư tưởng dao động. Trước mỗi trận đánh cần đánh giá sâu sắc tình hình tư tưởng của các chiến binh từ cán bộ đến đội viên. Cán bộ ta có trường hợp không dám nói hết suy nghĩ của mình khi nhận nhiệm vụ chiến đấu. Biết trận đánh có nhiều khó khăn, thậm chí có lúc thấy rõ nếu đánh sẽ thất bại, nhưng sợ nêu nhiều khó khăn, cấp trên sẽ đánh giá quyết tâm mình thấp. Cần rèn luyện cho cán bộ, vì nhiệm vụ chiến đấu và trách nhiệm trước xương máu của bộ đội, phải nói hết suy nghĩ của mình khi nhận nhiệm vụ, có khó khăn phải nói khó khăn, nếu xét thấy khó thắng, phải nói rõ tại sao khó đánh thắng.

« Sửa lần cuối: 15 Tháng Giêng, 2017, 07:53:39 pm gửi bởi Giangtvx »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 07:02:59 pm »

Sau đánh giá tình hình là bước hạ quyết tâm tác chiến. Trong quá trình hạ quyết tâm, nhờ nắm phương pháp tư duy biện chứng, chúng tôi thường có thời gian soi xét lại quyết tâm đã hạ, tự mình tìm ra những sai sót của mình.

Chúng ta đều biết rằng không có quyết tâm hay nhất. Người chỉ huy càng giỏi quyết tâm càng hay. Vì vậy soi xét kỹ quyết tâm đã hạ một cách toàn diện có thể thấy những chỗ chưa phù hợp, cần bổ sung.

Năm 1972, trong chiến dịch Trị - Thiên, Sư đoàn 304 có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch đánh chiếm khu vực phòng ngự của 2 trung đoàn địch (trung đoàn 56 và lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147). Quyết tâm đầu tiên của chúng tôi là chiếm 2 cứ điểm vòng ngoài, sau đó củng cố khu vực đã chiếm để đánh địch phản kích, diệt địch ngoài công sự, tiếp theo mới đánh vào căn cứ trung đoàn của chúng. Sau khi nghiên cứu kỹ khả năng đối phó của địch, chúng tôi thấy chúng ít khả năng phản kích, chủ yếu chúng sẽ tăng cường lực lượng để giữ các cứ điểm còn lại. Lý do chính là chiến dịch này ta đánh lớn. Ngay từ đầu ta đã dùng 7 trung đoàn pháo binh, chế áp hầu hết các căn cứ hỏa lực, các sở chỉ huy của địch. Vì vậy, đánh xong các cứ điểm vòng ngoài, ta không đợi địch phản kích, mà phải lập tức tiến công vào các căn cứ vòng trong. Quyết tâm lần thứ hai (có bổ sung) hợp lý hơn quyết tâm lúc đầu.

Suy nghĩ tiếp, chúng tôi lại thấy, ta đánh mạnh như vậy, có thể sau khi diệt các tiểu đoàn vòng ngoài, địch ở căn cứ phía trong có thể rút chạy. Như vậy, ta chỉ chiếm được đất, không diệt gọn được sinh lực địch. Xuất phát từ suy nghĩ trên, chúng tôi đã dùng Trung đoàn 24 lúc đầu được sử dụng làm thê đội 2) để cùng một lúc tiến công các cứ điểm vòng ngoài lập tức thọc sâu vào bao vây căn cứ vòng trong, không cho địch rút chạy. Nhờ sự bổ sung quyết tâm như trên, căn cứ trung đoàn 56 ở vòng trong, do bị bao vây chặt, không có khả năng rút chạy đã phải đầu hàng. Đáng tiếc, do không đủ lực lượng để bao vây 2 căn cứ cùng một lúc, lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 chỉ bị diệt 2 tiểu đoàn vòng ngoài, sở chỉ huy lữ đoàn cùng 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ và 1 tiểu đoàn pháo binh đã rút chạy.

Rõ ràng với tư duy biện chứng, chúng tôi đã tìm được quyết tâm hay hơn quyết tâm lúc đầu. Có lẽ nếu suy nghĩ thêm, hoặc có người chỉ huy giỏi hơn, ta có thể còn diệt được cả lực lượng còn lại của lữ đoàn 147, diệt gọn 2 trung đoàn chứ không phải chỉ diệt gọn 1 trung đoàn.

Xuất phát từ thực tế, ta thấy phép biện chứng là một nội dung không thể thiếu trong đào tạo người chỉ huy. Mong rằng, ngày nay có thời gian hơn trước đây, ta nên dạy sâu về triết học ngay cả cho các sĩ quan sơ cấp.

+ Học tập về sử dụng các binh chủng kỹ thuật.

Sĩ quan chỉ huy, nhất là sĩ quan trung cấp, cao cấp rất cần học để nắm vững các binh chủng kỹ thuật có trong biên chế (trung đoàn, sư đoàn) và được cấp trên tăng cường trong quá trình tác chiến. Học về binh chủng kỹ thuật, không chỉ học về tính năng chiến thuật mà còn về tính năng kỹ thuật của các loại vũ khí trang bị. Càng nắm vững tính năng kỹ thuật, người chỉ huy bộ đội binh chủng hợp thành càng có điều kiện phát huy hết khả năng chiến đấu của các binh chủng kỹ thuật.

Học về xe tăng, chúng tôi không chỉ học để biết các tính năng chiến thuật như tốc độ cơ động, các loại súng có trên xe, phạm vi diệt các loại mục tiêu của chúng, phương pháp hiệp đồng tác chiến với bộ binh... Chúng tôi còn được học về cấu tạo của xe, học lái xe, học bắn súng... Khi được học về các tính năng kỹ thuật nói trên, chúng tôi nghĩ là không cần thiết. Lúc sử dụng xe tăng trong chiến đấu, chúng tôi mới thấy càng hiểu sâu về tính năng kỹ thuật càng sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật có hiệu quả cao.

Trong cuộc tiến công vào thành phố Đà Nẵng năm 1975, Sư đoàn 325 được tăng cường 1 đại đội xe tăng lội nước. Trên đường tiếp cận địch ở đèo Hải Vân, chúng tôi gặp một chiếc cầu đã bị phá hoại. Lúc nhận lệnh cho xe tăng vượt sông, đồng chí đại đội trưởng xe tăng báo cáo: “Do xe để lâu ngày nên nước lọt vào xe khi vượt sông”. Tôi hỏi kỹ về lượng nước lọt vào xe trong một phút là bao nhiêu? Tốc độ bơm ra của máy bơm trang bị trong xe là bao nhiêu? Tính toán kỹ, sông chỉ rộng 50m nên có thể cho xe lội qua được, không sợ chìm. Đồng chí đại đội trưởng cho vượt thử một xe, kết quả xe qua sông an toàn. Người chỉ huy, trong trường hợp trên nếu không nắm vững cơ cấu kỹ thuật xe tăng, có thể không dám cho xe tăng vượt qua sông kịp thời hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu.

Trong chiến đấu, để bảo đảm thông tin liên lạc nhanh và vững chắc phải dựa vào thông tin vô tuyến điện sóng cực ngắn. Đáng tiếc, các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy sơ cấp không dạy cho học viên tiểu đoàn, trung đoàn sử dụng thông tin vô tuyến điện, thường chủ yếu dựa vào phương tiện thông tin hữu tuyến điện, loại phương tiện thông tin này dễ bị bom đạn làm hỏng, mà dựa vào thông tin vận động thì loại thông tin này thường bị chậm (thông tin vận động của ta trong chiến tranh chủ yếu là dựa vào đôi chân của chiến sĩ liên lạc).

Bài học kinh nghiệm rút ra qua chiến đấu là người chỉ huy binh chủng hợp thành càng hiểu biết sâu về các binh chủng kỹ thuật, càng phát huy cao tác dụng của chúng, nâng cao hiệu suất chiến đấu của từng trận đánh, chiến dịch.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh - Thiếu tướng Hoàng Đan« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2017, 07:41:22 pm »

+ Học tập về lịch sử quân sự.

Trải qua, mấy nghìn năm lịch sử, hàng trăm, hàng nghìn cuộc chiến tranh, hàng nghìn, hàng vạn trận chiến đấu diễn ra. Tuy lịch sử không lặp lại hoàn toàn nhưng sự đối kháng trí tuệ và vũ lực có những quy luật nhất định. Các tình huống diễn ra trong các cuộc chiến tranh, các trận chiến đấu không tránh khỏi nhiều lần lặp lại, có những chi tiết trùng hợp nhau. Nếu người chỉ huy am hiểu lịch sử các cuộc chiến tranh, các chiến dịch, trận chiến đấu, nắm vững tình hình diễn ra trong các cuộc chiến tranh, các trận chiến đấu đã qua thì không những nắm vững được các quy luật chung của chiến tranh, của các trận chiến đấu mà những tri thức lịch sử quân sự được tích lũy sẽ nâng cao bản lĩnh, kỹ năng, kỹ xảo trong chỉ huy tác chiến; có thêm kinh nghiệm trong đánh giá tình hình, xác định quyết tâm xử trí các tình huống. Vì vậy, các nhà trường đều có môn dạy về lịch sử quân sự. Đáng tiếc, các trường đào tạo sĩ quan trung cấp và cao cấp của ta trong kháng chiến dành quá ít thời gian cho môn học này và một số học viên đầu tư cho môn học này không nhiều. Những cán bộ học tập quân sự ở các nhà trường (học viện) do tự học, nhờ hiểu sâu về lịch sử quân sự nên đã có những sáng tạo trong vận dụng các kinh nghiệm lịch sử, xử trí tốt các tình huống diễn ra trong hai cuộc kháng chiến.

Từ năm 1946 đến năm 1950, là thời gian nhân dân và quân đội ta chiến đấu trong vòng vây, trang bị của lực lượng vũ trang ta rất thô sơ, trong lúc quân địch có trang bị hiện đại. Tuy vậy, ta đã có cách đánh phù hợp để thắng địch. Cụ thể, ta thường vận dụng hai hình thức chiến thuật chính là phục kích và tập kích, kể cả tập kích quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc. Tư tưởng, phương châm chiến đấu như trên đã được Nguyễn Trãi nêu lên trong cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn: “Lấy yếu đánh mạnh - thường đánh bất ngờ, lấy ít địch nhiều - thường dùng mai phục”. Các phương pháp ta đã vận dụng để lừa địch như dương đông kích tây, điệu hổ ly sơn, mạnh làm như yếu, yếu làm như mạnh, thật làm như giả, giả làm như thật, ... cũng là những phương pháp được người xưa vận dụng nhiều lần.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ đánh địch với chiều sâu 70km. Phòng ngự của địch ngoài mạnh, trong yếu. Quân đoàn đã quyết tâm dùng các sư đoàn bộ binh đánh địch vòng ngoài, dùng binh đoàn cơ động thọc sâu, với nòng cốt là lữ đoàn xe tăng, xe bọc thép, nên đã nhanh chóng vượt qua chặng đường 40km vào đánh chiếm hang ổ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn là dinh “Độc Lập”. Việc hạ quyết tâm sử dụng binh đoàn cơ động thọc sâu như trên một phần cũng là dựa vào kinh nghiệm của Hồng quân Liên Xô trong đại chiến thế giới lần thứ hai. Quân đội Liên Xô trong các chiến dịch có chiều sâu lớn, đều dùng các tập đoàn quân bộ binh đánh vòng ngoài, sau dùng tập đoàn quân xe tăng thọc nhanh để diệt địch vòng trong.

Qua hai cuộc kháng chiến, chúng ta thấy rõ, người chỉ huy càng biết nhiều về lịch sử chiến tranh, càng có nhiều khả năng để hạ quyết tâm nhanh và chính xác, xử trí các tình huống linh hoạt, phù hợp thực tế chiến trường.

- Học tập tại các trường quân sự nước ngoài.

Trước khi có chính quyền, Đảng ta đã cử một số cán bộ học tập quân sự ở nước ngoài. Từ trước khi thành lập Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cử một số thanh niên vào học tập ở trường võ bị Hoàng Phố, một trường quân sự Trung Quốc mở ra ở thời kỳ “quốc - cộng hợp tác”. Một số cán bộ của ta học tại trường Hoàng Phố sau này đã trở thành tư lệnh quân khu như đồng chí Lê Thiết Hùng, đồng chí Nguyễn Sơn. Trong thời kỳ công tác tại Liên Xô, Hồ Chí Minh cũng đã cử một số cán bộ vào học tập tại trường quân sự của Hồng quân. Năm 1941, ngay lúc mới về nước, lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng đã cử một số cán bộ sang học tập quân sự ở trường Liễu Châu (Trung Quốc). Nhiều đồng chí học tập tại đây, sau này đã giữ các trọng trách trong lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến như các đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Minh Thảo và nhiều đồng chí khác.

Sau khi giành được chính quyền, suốt 30 năm tiến hành kháng chiến, Đảng ta đã cử rất nhiều cán bộ sang học tập ở các trường quân sự của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác. Học tập ở các trường quân sự nước ngoài là một yêu cầu cần thiết. Thực tế nhiều nước có nhiều điều kiện thuận lợi hơn ta trong dạy quân sự: trường, lớp, giáo viên, tài liệu, cơ sở vật chất để thực hành ... tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy học. Tinh hoa của nghệ thuật quân sự ta có, các nước cũng có, Đảng ta đặt vấn đề phải học tập một cách có chọn lọc kinh nghiệm của quân đội nước ngoài. Nếu chúng ta không nắm chắc được nhiều kinh nghiệm của quân đội nước ngoài thì làm sao có thể chọn lọc được. Tuy nhiên, cũng có đồng chí học quân sự ở nước ngoài dễ phạm phải giáo điều, hoặc kém phần sáng tạo để phù hợp với thực tế trong nước.

Để không giáo điều, để thống nhất tư tưởng quân sự, thống nhất về nghệ thuật quân sự, Bộ Tổng tư lệnh đã tổ chức ra cơ quan khoa học quân sự mạnh, do đích thân đồng chí Tổng tư lệnh, Đại tưởng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo để tổng hợp kinh nghiệm của tổ tiên ta, của quân đội nước ngoài, kinh nghiệm của lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến, kết hợp với thực tiễn, biên soạn ra các sách quân sự dùng cho trước mắt. Tất cả các cán bộ học tập ở trong nước hay ở nước ngoài đều lấy các sách quân sự do cơ quan khoa học quân sự biên soạn làm căn cứ để thống nhất tư tưởng, hành động trong tác chiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Những điều đọng lại qua hai cuộc chiến tranh (1) | Câu chuyện thời hoa lửa