Bài viết

NHỮNG ĐOÀN LƯU DÂN MIỀN TRUNG VÀ CUỘC KHẨN HOANG THẾ KỶ XVII: BẢN HÙNG CA MỞ CÕI PHƯƠNG NAM

NHỮNG ĐOÀN LƯU DÂN MIỀN TRUNG VÀ CUỘC KHẨN HOANG THẾ KỶ XVII: BẢN HÙNG CA MỞ CÕI PHƯƠNG NAM

Tây Ninh08/07/2026Nguyễn Thanh Sang (Xã Đức Lập)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NHỮNG ĐOÀN LƯU DÂN MIỀN TRUNG VÀ CUỘC KHẨN HOANG THẾ KỶ XVII: BẢN HÙNG CA MỞ CÕI PHƯƠNG NAM

Thế kỷ XVII, trong khi bờ cõi Đàng Ngoài đang oằn mình dưới những cuộc xung đột khốc liệt của các tập đoàn phong kiến, thì ở Đàng Trong, một trang sử mới, vĩ đại và lặng lẽ, đang được viết nên. Đó là trang sử mở cõi của những đoàn lưu dân nghèo khổ từ dải đất miền Trung (Thanh - Nghệ, Thuận - Quảng). Bằng ý chí sinh tồn phi thường, họ đã vượt ngàn trùng khơi, xuyên qua những dải rừng rậm hiểm trở để khai phá vùng đất Nam Bộ hoang vu, đặt nền móng vững chắc cho bản đồ nước Việt ngày hôm nay.

Lời gọi từ dải đất phương Nam hoang vu

Vào đầu thế kỷ XVII, vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ – đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ – vẫn còn là một dải đồng hoang, bạt ngàn rừng rậm, sình lầy và kênh rạch chằng chịt. Trong ký ức văn hóa dân gian còn lưu truyền, đó là miền đất của "Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận", nơi “Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”.

Tuy thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt với thú dữ, muỗi mòng, nước độc, nhưng dải đất Nam Bộ lại ẩn chứa một tiềm năng trù phú vô bờ bến: đất đai phù sa màu mỡ, tôm cá đầy sông, rừng già giàu lâm sản. Giữa bối cảnh quê nhà miền Trung liên tiếp chịu cảnh thiên tai, mất mùa, lại thêm sự hà khắc, bắt lính và cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn phân tranh dai dẳng, những người nông dân nghèo, những binh lính đào ngũ, hay những người không còn đường lui đã chọn giải pháp duy nhất: đi về phương Nam để tìm sự sống.

Hành trình vượt biển, băng rừng của những “bàn chân không mỏi”

Cuộc khẩn hoang thế kỷ XVII không phải là một chiến dịch quân sự quy mô, mà bắt đầu bằng những bước chân tự phát nhưng kiên cường của từng gia đình, từng nhóm lưu dân miền Trung.

Họ di chuyển chủ yếu bằng hai con đường: đường biển và đường bộ. Bằng những chiếc ghe bầu thô sơ, men theo bờ biển miền Trung, vượt qua các cửa biển hiểm trở như mũi Đại Lãnh, vịnh Cam Ranh, các đoàn lưu dân đã tiến vào các cửa sông lớn của vùng đất Gia Định, Đồng Nai. Những người đi đường bộ thì băng qua những cánh rừng rậm rạp dọc theo dãy Trường Sơn, tiến dần xuống phía Nam.

Hành trang mang theo của họ vô cùng giản dị: một vài nông cụ bằng sắt, ít hạt giống rau quả, lúa nước, và một ý chí sắt đá không lùi bước trước gian nguy. Khi đặt chân lên vùng đất mới, việc đầu tiên của các đoàn lưu dân là dựng chòi, vạt cỏ, đốn cây rừng để cất nhà và khai khẩn đất hoang. Họ học cách thích nghi với hệ sinh thái ngập mặn, sáng tạo ra cách thức canh tác lúa sạ, lúa nổi để phù hợp với quy luật nước lên xuống của vùng sông nước Nam Bộ.

Từ những khoảnh đất hoang đến làng mạc trù phú

Sự xuất hiện của các đoàn lưu dân miền Trung đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của vùng đất phương Nam chỉ trong vòng vài thập kỷ của thế kỷ XVII. Từ những cụm dân cư thưa thớt ban đầu dọc theo các triền sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ, những xóm làng, bến chợ trù phú bắt đầu mọc lên.

Để bảo vệ thành quả lao động và chống chọi lại thú dữ, thiên tai, các đoàn lưu dân miền Trung đã thiết lập nên một tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đặc biệt – tiền thân của tính cách Nam Bộ bộc trực, hào sảng và trọng nghĩa khinh tài ngày nay. Họ không chỉ khai khẩn đất đai mà còn hòa nhập, tiếp thu và giao thoa văn hóa một cách hài hòa với các cộng đồng cư dân bản địa như người Khmer, người Chăm, và sau này là các nhóm người Hoa tị nạn lưu vong.

Đến cuối thế kỷ XVII (năm 1698), nhận thấy sự phát triển vượt bậc và vị thế không thể đảo ngược của vùng đất này, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phương Nam, chính thức thiết lập đơn vị hành chính, lập phủ Gia Định, ghi danh vùng đất mới vào bản đồ hành chính của vương triều. Đó là dấu mốc chói lọi, khẳng định sự thành công mang tính lịch sử của cuộc khẩn hoang.

Lời kết của nhà báo lịch sử

Nhìn lại thế kỷ XVII, cuộc di dân và khẩn hoang của những đoàn lưu dân miền Trung là một trong những chương sử bi tráng và vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Họ không đi bằng gươm đao mà đi bằng cây cuốc, đường cày và những giọt mồ hôi đổ xuống dòng kênh, thớ đất.

Chính những "Hạt giống đỏ" đầu tiên của sự sống ấy đã biến vùng đất hoang vu thành vựa lúa lớn nhất nước, tạo nên một dải giang sơn gấm vóc phương Nam trù phú. Mỗi tấc đất Nam Bộ hôm nay đều thấm đẫm lòng biết ơn vô hạn đối với những thế hệ tiền nhân lưu dân miền Trung thế kỷ XVII – những người đã đánh đổi cả cuộc đời để dâng tặng cho con cháu một dải biên cương hòa bình và thịnh vượng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NHỮNG ĐOÀN LƯU DÂN MIỀN TRUNG VÀ CUỘC KHẨN HOANG THẾ KỶ XVII: BẢN HÙNG CA MỞ CÕI PHƯƠNG NAM | Câu chuyện thời hoa lửa