Những đóng góp trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm báo Tiếng Dân
Trở về quê hương năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động yêu nước bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh mới. Trong giai đoạn 1921-1943, trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm, chủ bút báo Tiếng Dân, cụ tích cực đấu tranh đòi dân quyền, dân sinh, cải cách chính trị và bảo vệ lợi ích dân tộc.
Cụ sử dụng nghị trường làm diễn đàn công khai nêu ý kiến của Nhân dân, yêu cầu chính quyền thực dân thay đổi chính sách cai trị. Cụ và các dân biểu tiến bộ đề xuất ban hành hiến pháp, mở rộng quyền tự do dân chủ, phân định quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu, trao quyền bầu cử cho người đóng thuế. Dù nằm trong khuôn khổ chế độ bảo hộ, những đề xuất ấy cho thấy rõ yêu cầu cải tổ cơ cấu cai trị và mở rộng quyền tham gia chính trị của người dân. Nhận rõ giới hạn của Viện Dân biểu và sự can thiệp của chính quyền thực dân, Cụ kiên quyết từ chức năm 1928.
Cùng với hoạt động nghị trường, cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng hoạt động báo chí. Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên do Cụ làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tờ báo tồn tại liên tục 16 năm (1927-1943) với 1.766 số, giữ tiếng nói độc lập và tôn chỉ cải cách, không xu phụ nhà cầm quyền. Báo phản ánh những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội, nhất là tình trạng áp bức, bóc lột, thuế khóa và bất công. Cụ yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh; những vấn đề đã kiểm chứng thì dù chịu sức ép vẫn kiên quyết đăng.
Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, Tiếng Dân đã đăng các bài viết do tù chính trị bí mật gửi ra để tố cáo chế độ tù đày. Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939, báo tiếp tục cổ vũ các yêu cầu về dân sinh, dân chủ, đăng bài của nhà báo Pháp A. Viôlít phê phán chế độ cai trị áp bức. Ngày 14/9/1936, Cụ công bố thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ và bản thỉnh cầu tháng 9/1936, đưa Tiếng Dân trở thành diễn đàn quan trọng của phong trào vận động dân chủ.
Từ tháng 7/1938, trước tranh chấp Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử (tức cụ Huỳnh Thúc Kháng) khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam. Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về Đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác sản vật của người Việt và đặc biệt là "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn. Việc đưa vấn đề Hoàng Sa lên báo thể hiện rõ ý thức bảo vệ chủ quyền và trách nhiệm đối với lãnh thổ quốc gia.
Năm 1939, cụ xuất bản Thi tù tùng thoại, tập hợp thơ và ghi chép bằng chữ Hán thời gian ở Côn Đảo, chứa nhiều tư liệu lịch sử có giá trị về các phong trào Đông Du, Duy Tân.
Báo Tiếng Dân chịu chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ. Có những bài biết chắc sẽ bị cắt nhưng cụ vẫn đưa kiểm duyệt; phần bị cắt được để trống trên mặt báo để độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền, quyết không biến sự kiểm duyệt của chính quyền thành sự tự kiểm duyệt của người làm báo. Ngày 24/4/1943, lo ngại trước ảnh hưởng của báo, thực dân Pháp đã đình bản Tiếng Dân. Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài thơ Tiếng Dân bị đình bản ngày 24/4/1943 để ghi lại sự kiện này.
Từ nghị trường đến báo chí, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhất quán theo đuổi mục tiêu bảo vệ quyền lợi Nhân dân, đấu tranh cho dân quyền, dân sinh và cải cách xã hội, khẳng định bản lĩnh của một chí sĩ yêu nước và nhà báo kiên định.
Thanh Phương (tổng hợp) / TTXVN



