Bài viết

Những dòng tâm huyết để lại

Những dòng tâm huyết để lại

Thái Nguyên13/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Sống là phải hiến dâng cho Tổ quốc; phải dâng mình cho đất nước đau thương. Chết vì dân, vì nước tại trận tiền là cái chết thiêng liêng cao cả…”- Đó là điều mà chiến sĩ Hải quân Trịnh Tố Bảo gửi lại cho thế hệ sau...

QĐND - "Sống là phải hiến dâng cho Tổ quốc; phải dâng mình cho đất nước đau thương. Chết vì dân, vì nước tại trận tiền là cái chết thiêng liêng cao cả…”- Đó là điều mà chiến sĩ Hải quân Trịnh Tố Bảo gửi lại cho thế hệ sau thông qua cuốn nhật ký ghi trọn một năm (từ ngày 1-1-1964 đến 23-12-1964) trước khi vào Nam chiến đấu.Trịnh Tố Bảo sinh ngày 20-8-1945, tại thôn Tiên Tảo, xã Thanh An, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Trịnh Tố Bảo họ gốc thuộc dòng Nguyễn Đức. Khi vào Nam chiến đấu, anh đổi tên thành Trịnh Tố Bảo Phong. Cả hai bên nội ngoại của Bảo đều là những gia đình có truyền thống cách mạng. Ông nội là Nguyễn Đức Hãn, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính xã giai đoạn 1949-1951. Tháng 1-1950, ông bị thực dân Pháp bắn chết trong một trận càn (sau này được công nhận là liệt sĩ). Ông ngoại là Ngô Nhật Tân, tốt nghiệp Trường Kỹ nghệ Đông Dương. Do tham gia phong trào yêu nước của Nguyễn Thái Học, ông bị thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo. Người bố kính yêu của Trịnh Tố Bảo là Đại tá Trịnh Tố Phan, nguyên Phó tham mưu trưởng các quân khu: 1, 4, 7, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Thanh Hóa…
Tập nhật ký của liệt sĩ Trịnh Tố Bảo đã được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in ấn và phát hành tháng 8-2009. Tháng 6-1963, vừa học xong lớp 8/10, nhân có đợt tuyển quân, Bảo xung phong đi khám sức khỏe. Đủ tiêu chuẩn, Bảo được nhận vào Quân chủng Hải quân. Sau 3 tháng huấn luyện ở Thủy Nguyên (Hải Phòng), Bảo được điều xuống Quân hạm 132 ở Bãi Cháy (Quảng Ninh), làm pháo thủ.Tháng 4-1964, đơn vị phát động phong trào tình nguyện vào Nam chiến đấu. Bảo là đoàn viên Thanh niên Lao động nên được chọn ngay từ đầu. Thế là, anh cùng 25 đồng chí khác vác ba lô về Hải Phòng huấn luyện trinh sát đặc công nước tại Đồ Sơn… Trước khi lên đường, ngày 5-12-1964, anh được nghỉ phép 20 ngày về thăm gia đình. Hết phép, anh trở lại đơn vị rồi vào Nam chiến đấu ngay trong tháng 1-1965. Từ đó, gia đình không nhận được tin tức gì về anh nữa. Di vật của anh chỉ có cuốn nhật ký và bức chân dung trong bộ quân phục Hải quân. Mãi sau này, bà Lê Thị Thủy-cán bộ Ban Binh vận Trung ương Cục Miền Nam mới chuyển cho gia đình lá thư cuối cùng Bảo gửi cho bà đề ngày 15-4-1968 cùng tấm ảnh tổ đặc công nước của Bảo (chụp tháng 6-1967). Bà Thủy còn cho biết, theo nguồn tin chưa chính thức thì Bảo đã hy sinh ngày 22-4-1968, trong trận đánh cầu Bến Lức (Long An) cùng cả tiểu đội thuộc đơn vị ZC91-Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam…Sớm giác ngộ và ý thức được vai trò và trách nhiệm của một người thanh niên đối với quê hương, đất nước, Trịnh Tố Bảo ao ước được vào Nam chiến đấu, mặt đối mặt với quân thù… Đúng là háo hức, náo nức và vui thật, nhưng Bảo cũng ý thức và lường trước được những khó khăn, gian khổ, hy sinh, mất mát. Bảo ghi nhật ký để tự xác định và nhắc nhở mình luôn luôn nghĩ đúng, làm đúng, học tập, công tác, rèn luyện và phấn đấu để trở thành một chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, tự tin, vào sống ra chết không nản chí. Đó là những điều mà anh tâm niệm, vừa động viên mình vừa động viên đồng đội.Ngày 1-1-1964Hôm nay, bước sang năm mới. Buổi sáng mát dịu. Nghe Thiếu tướng Lê Trọng Tấn nói chuyện tại sân bóng rổ. Bài nói chuyện rất bổ ích cho mặt tư tưởng và hiểu biết thêm về thời sự.Ngày 8-1-1964Một ngày sống trên biển. Lúc rời bến 4 giờ 30. Tối nay, thả neo trong khu vực đảo Con Cá. Buổi đi biển này cũng bị say sóng. Mình cảm thấy còn say nhiều nữa chứ chưa phải đã hết.Vịnh Hạ Long đẹp quá! Có lúc, tàu đi qua những hòn đảo rất là hùng vĩ, đẹp đẽ. Ở đây, có vô vàn hòn đảo; mỗi hòn một dáng vẻ. Lắm hòn, chân bằng cổ tay mà trên thì to sù. Có hòn giống con vật. Cho nên có đảo lại mang tên là Con Cóc. Lắm hòn, trên lại có cả khỉ.Ngày 9-2-1964Chủ nhật, được diện đi chơi, mình đi với Cự ở T130. Hai thằng ung dung dạo chơi, xem cảnh vật ngày sắp Tết... Phố phường như trẻ lại. Người đi lại tấp nập… Mình cùng Cự mua vài thứ cần thiết. Định mua thêm tem, phong bì, giấy chúc Tết thì… “tít-tít—-tu-tu”. Thế là hai thằng cắm cổ chạy về bến phà; mồ hôi nhễ nhại, mồm mũi tranh nhau thở… Lúc này, bóng dáng các chiến sĩ Hải quân nhấp nhô từ các ngả phố đều hối hả chạy về. Từ khi trông thấy mô-tô (báo động) của đơn vị, mình và Cự vội vã qua đò, về tới vị trí chiến đấu chỉ mất khoảng 15 phút…ĐỒNG CHÍ CÓ BIẾT?Liệt sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt NamĐó là liệt sĩ Hoàng Văn Nhủng, tức Xuân Trường, người dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên ở bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngày 22-12-1944, Xuân Trường là một trong số những đội viên xuất sắc của châu Hà Quảng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn là một trong 34 chiến sĩ tham gia Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay.Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần giành thắng lợi, Tiểu đội trưởng Xuân Trường cùng đội hành quân về Lũng Dẻ, xã Trùng Khuôn (Nguyên Bình) và khu Việt Minh Thiện Thuật (nay thuộc xã Trương Lương, huyện Hòa An), củng cố lực lượng, bổ sung thêm trang bị vũ khí, sau đó tiếp tục hành quân đi đánh đồn Đồng Mu (Bảo Lạc). Trận công đồn diễn ra vào đêm mồng 4, rạng sáng 5-2-1945 (tức ngày 22 tháng Chạp) khá ác liệt. Tổ do Tiểu đội trưởng Xuân Trường chỉ huy xung phong đột nhập qua cửa sổ, dùng súng tiểu liên diệt ngay tên gác cổng và một số tên khác. Đạn trong băng hết, anh rút thanh kiếm và khẩu súng ngắn xông vào sở chỉ huy địch. Một số tên địch tiếp tục bị tiêu diệt, quân địch cố thủ ở một lô cốt giữa đồn chống cự quyết liệt. Khi Xuân Trường đang lắp đạn thì bị một viên đạn địch bắn xuyên qua ngực và anh ngã gục xuống.Cuộc chiến đấu kéo dài từ 23 giờ ngày mồng 4 đến 2 giờ ngày 5-2-1945, quân ta tiêu diệt 20 tên địch, bắt sống 3 tù binh, thu 5 khẩu súng và nhiều đạn dược. Trong trận chiến đấu này, đồng chí Xuân Trường-Tiểu đội trưởng đã chiến đấu dũng cảm và anh dũng hy sinh. Ngày 19-8-1961, Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng Tổ quốc ghi công và công nhận đồng chí Hoàng Văn Nhủng là liệt sĩ.DUY ĐÔNG (tổng hợp)Ngày 7-4-1964… Hôm nay, tàu bạn lên đốc. Buổi sáng, học tập ngành. Chiều, bước vào học tập chính trị về Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng. Mình còn nhớ cách đây 6 tháng, mình đã học qua Nghị quyết 8 ở trường huấn luyện. Nghị quyết lần này quan trọng lắm. Mình thấy đây là những quan điểm, đường lối của Đảng đối với phong trào cộng sản quốc tế hiện nay. Vấn đề này, mình thấy rất bí, cần được hiểu biết sâu rộng thêm. Cho nên, Nghị quyết 9 đến với mình thật là đúng lúc. Mình rất thích. Nghị quyết 9 đến chẳng khác nào dòng nước mát về với đồng lúa đang khô cằn; về với lòng mình khi đang kỳ nóng bức của mùa hè…Ngày 9-4-1964Sáng hôm nay, có sự việc làm mình hồi hộp, không biết vì lo sợ hay vì sung sướng... Mình được chọn đi gia nhập Quân Giải phóng. Thế là mình đã đạt được nguyện vọng. Mình sẽ vào Nam chiến đấu cho sự nghiệp của Tổ quốc, của nhân dân…Dũng cảm lên, Bảo ạ! Gan dạ vào! Cố gắng lên! Không sợ gì hết vì ta đã có lý tưởng rõ ràng, đúng đắn và vĩ đại!Ngày 11-4-1964Hôm nay, học xong chính trị. Chỉnh huấn Nghị quyết 9 cũng đã xong. Thế là mình sắp xa hạm tàu rồi!Qua 5 tháng sống với tàu, tạm biệt đi nhận công tác xa, trong lòng thấy buồn vô hạn. Chỉ còn một ngày nữa thôi là xa các đồng chí trong hạm tàu...Hôm nay, chiều cuối cùng ở cảng Bãi Cháy, trên con tàu T132. Vào lúc 2 giờ chiều, trời bỗng tối sầm, mù mịt, rồi đổ một trận mưa rào ầm ầm như thác đổ, làm cho mình đã buồn lại buồn thêm. Cố gắng vui lên, Bảo! Mày sợ hả Bảo! Đồ hèn!!!Không! Bảo không sợ! Bảo sẽ hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Tạm biệt hạm tàu nhé! Từ nay, tạm xa mày rồi…Ngày 19-7-1964Tối qua, hành quân miết, cứ đi mãi. Qua một đoạn phố, rồi xuyên qua làng mạc. Cứ thế, đi mãi, ven theo đường làng. Đồng ruộng mới gặt. Thỉnh thoảng có thửa đã cấy; có thửa mới cày. Nước ruộng lấp lánh dưới ánh trăng bạc. Đoàn quân đi xuyên qua làng này sang làng khác. Ở đâu cũng giống như làng mình. Thành thử, mình cứ có cảm tưởng như là bộ đội ta trong kháng chiến chống Pháp.Về nơi mới: Chùa Vẽ (sát sông Cầu). Cây cối cổ thụ um tùm. Cũng nhà ngói, tượng gỗ, sân gạch, tường hoa. Chùa có một ông sư trụ trì…Ngày 28-7-1964Ở đây, mình không nói kỹ việc đi chơi ngoài phố mà nói về một “vấn đề” rất vui mừng và phấn khởi: Gặp lại Kim Thanh!Kim Thanh đã về Hải Phòng chơi từ thứ sáu tuần trước. Qua một tuần, Kim Thanh chờ mong gặp lại mình. Thế mà tiếc thay, chủ nhật vừa qua vì bận học tập nên mình không về được. Hôm nay, gặp Thanh, mình hồi hộp và phấn khởi vô cùng. Nói gì đây trước cô bạn gái? Chuyện có nhiều nhưng lúc ấy, mặt mình cứ nóng ran, ấp a ấp úng, nói chẳng nên lời. Cả Thanh cũng thế nên hai đứa chỉ nhìn nhau cười thay cho lời muốn nói. Sau hai giờ “hàn huyên”, lúc chia tay cũng vậy… không nói mà như đã nói tất cả.Ngày 7-8-1964… Bọn Mỹ đã trắng trợn bắn phá, thả bom miền Bắc; bắn phá các cảng hải quân của ta… Giá mình còn ở Hòn Gai thì có lẽ cũng được tham gia trực tiếp chiến đấu với phi cơ Mỹ rồi. Trận chiến thắng của quân đội ta làm mình phấn khởi không sao tả xiết. Mình còn thấy vinh dự, tự hào là người chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam… Trong trận đánh trả quân Mỹ xâm lược, ta đã hạ 8 máy bay địch; bắn bị thương 3 chiếc khác; bắt sống một tên trung úy phi công Mỹ; đánh đuổi khu trục hạm Ma-đốc ra khỏi hải phận nước ta.Ngày 17-10-1964Ngày hôm nay, tập chiến thuật. Mình cảm thấy tập thế này thích thú vô cùng. Cũng như bọn mình hồi nhỏ chơi trận giả; bò, lội, ngụy trang cẩn thận nhưng bây giờ có khác, mình là bộ đội rồi. Tập bây giờ là để chiến đấu, không đùa được đâu… Buổi tập kết thúc thắng lợi. Mọi người đã nắm được những điều cơ bản. Rồi chiến đấu sẽ còn muôn hình, muôn vẻ nhưng mình tin chắc vào khả năng chiến thuật của mình. Sẽ vận dụng có tính linh hoạt để chiến đấu, bắn vào đầu quân thù…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn