NHỮNG ĐỘNG VIÊN TRÊN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
Câu chuyện hồi tưởng về những năm tháng thanh niên xung phong tham gia xây dựng và bảo vệ tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về việc lực lượng thanh niên xung phong mở đường chiến lược, vận chuyển vũ khí, lương thực qua bom đạn và địa hình hiểm trở, với giọng văn chân thực, xúc động, khắc họa hình ảnh những người lính trẻ "xẻ dọc Trường Sơn" và tinh thần đoàn kết, hy sinh vì miền Nam ruột thịt.
Tôi vẫn hay ngồi một mình bên bờ suối Đớ, nghe tiếng nước chảy róc rách, mà lòng chợt trở về những ngày tháng lửa đạn trên đường Hồ Chí Minh. Sinh năm 1940, ở vùng đất Mường Lay xưa cũ, tôi lớn lên giữa núi rừng Tây Bắc, nơi mỗi ngọn đồi đều thấm đẫm máu và mồ hôi của cha ông. Năm 1966, khi giặc Mỹ mở rộng chiến tranh, tôi tình nguyện rời bản làng, gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong. Lúc ấy tôi đã ngoài hai mươi, nhưng trái tim vẫn trẻ như ngày đầu, cháy bỏng khát khao giải phóng miền Nam.
Đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại mà Bác Hồ đặt tên – lúc bấy giờ là mạch máu nối liền hậu phương lớn miền Bắc với chiến trường miền Nam. Chúng tôi được giao nhiệm vụ mở đường, sửa cầu, lấp hố bom, vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, gạo muối qua những cung đường đèo dốc, rừng sâu. Theo Chỉ thị 71/TTg-CN ngày 21/6/1965 của Thủ tướng, lực lượng Thanh niên xung phong được tổ chức quy mô lớn, gần 29 vạn thanh niên cả nước tham gia từ 1965 đến 1975. Chúng tôi đã mở và bảo vệ hơn 4.130 km đường chiến lược, vận chuyển 10 vạn tấn hàng hóa cho tiền tuyến.
Tôi nhớ những đêm mưa rừng tầm tã, bom B-52 rải thảm, đất trời rung chuyển, hố bom sâu hoắm nối tiếp nhau. Chúng tôi dùng cuốc xẻng, thậm chí dùng cả thân mình để lấp đường, chỉ vài giờ sau là xe lại chạy. Có lần, cả đội bị bom vùi lấp, đồng đội hy sinh ngay bên cạnh, máu thấm đỏ đất bazan, nhưng chúng tôi vẫn đứng dậy, hô to: "Vì miền Nam thân yêu, tiến lên!". Chất độc da cam rơi xuống, lá rừng úa vàng, nhiều người mắc bệnh nặng, nhưng không ai bỏ cuộc. Chúng tôi chia nhau từng nắm cơm, miếng sắn, hát vang bài ca "Tiến Quân Ca" để tiếp thêm sức mạnh.
Những năm tháng ấy, chúng tôi không chỉ làm đường, mà còn làm cầu nối tình đồng chí, đồng bào. Có những đêm nằm co ro trong hầm trú ẩn, anh em kể chuyện quê nhà, mơ về ngày thống nhất non sông. Đến mùa Xuân 1975, khi xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập, cờ đỏ tung bay trên Sài Gòn, tôi đứng trên một con đường chúng tôi từng mở, nước mắt lăn dài vì vui mừng xen lẫn nhớ thương những người đã nằm lại dọc đường Trường Sơn.
Giờ đây, ở tuổi xế chiều, ngồi bên bản Đớ nghe gió thổi qua rừng, tôi kể lại cho con cháu nghe về những ngày ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên bình thường, nhưng đã làm nên điều vĩ đại bằng lòng yêu nước và tinh thần bất khuất. Lực lượng Thanh niên xung phong – những đóa hoa lửa rực rỡ trên dãy Trường Sơn – mãi là biểu tượng của tuổi trẻ Việt Nam anh hùng. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình, phát huy truyền thống ấy, để đất nước mãi mãi vững vàng.


