NHỮNG GIỜ ĐƯỢC Ở BÊN ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Trong đời, tôi có vinh dự năm lần được về bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mỗi lần, dù là về thăm, về làm việc với tư cách người sưu tầm tư liệu lịch sử, hay đưa các đoàn thiếu nhi, học sinh về chúc thọ Đại tướng, là một lần có thêm những kỉ niệm hết sức sâu sắc và thiêng liêng.
Ngày 05 tháng 7 năm 1989 nhân dịp Đại tướng tròn tuổi 78, tôi, với tư cách Phó Bí thư Tỉnh đoàn Tỉnh Hoàng Liên Sơn phụ trách công tác thiếu nhi trường học, được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ đưa các em đi trại hè tại Sầm Sơn Thanh Hóa, chúng tôi ý định đến thăm Bác để các em thiếu nhi học sinh các dân tộc tỉnh miền núi Tây Bắc được gặp gỡ vị Đại tướng Tổng Tư Lệnh Quân đội nổi tiếng, liền cho cô Đỗ Thị Hương cán bộ Tỉnh đoàn về liên hệ trước, Văn phòng Đại tướng thỉnh thị ý kiến và báo tin là Bác đã nhận lời, chúng tôi mừng quá. Đêm hôm đó tại Trường Đội Lê Duẩn Hà Nội (nơi Đoàn nghỉ trọ) chú cháu thức đến 2 giờ sáng tập một số bài hát và chuẩn bị những thứ cần thiết để hôm sau vào báo cáo với Bác.
9 giờ sáng, chiếc xe ca đưa các cháu đi trại hè dừng bên đường Hoàng Diệu, các thiếu nhi quàng khăn đỏ và đoàn viên học sinh lấp lánh ánh huy hiệu, đã ngay ngắn đứng phòng chờ. Từ cửa ngách nhà riêng, Đại tướng hồng hào khỏe mạnh bước tới, Người giơ tay chào thiếu nhi theo kiểu người ông gặp đàn cháu. Tiếng vỗ tay vang dội. Đại tướng phá vỡ không khí trang nghiêm bằng câu hỏi:
- Các cháu từ tỉnh Hoàng Liên Sơn về thủ đô Hà Nội, thấy Hà Nội thế nào?
Có tiếng đáp: - Dạ, đẹp ạ.
Bác lại hỏi:
- Đẹp như thế nào?
Không có em nào trả lời mà chỉ nhìn nhau cười tủm tỉm.
Tôi báo cáo với Bác về đôi nét tình hình kinh tế xã hội, tình hình thanh niên, thiếu nhi và sự nghiệp giáo dục của Hoàng Liên Sơn. Bác rất chăm chú lắng nghe, có chỗ Người hỏi đi hỏi lại cho rõ ràng hơn. Rồi Đại tướng căn dặn tôi: “- Đồng chí, cũng như các cháu, khi trình bày có điều gì, phải nói thật, có nói thật mới chỉ ra nguyên nhân, mới có giải pháp đúng”. Bác nói thêm: “- Hoàng Liên Sơn có nguồn tài nguyên đất hiếm, rất quý. Đất đã quý, đất hiếm còn quý hơn". Anh em chúng tôi dường như lần đầu tiên được nghe đến từ đất hiếm, mà lại nghe từ lời Đại tướng. Sau khi các em học sinh kể chuyện học tập, làm việc tốt, rồi hát cho Bác nghe, tôi xin phép được chuyển đến Đại tướng lá thư tay của ông Lương Văn Ích (tức Lương Quay Sắm) người dân tộc Nùng, Hòa An, Cao Bằng, là một trong 34 chiến sỹ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mà Đại tướng là người phụ trách. Hôm trước, khi Văn phòng Đại Tướng thông báo cho Tỉnh Đoàn, là Bác đã nhận lời đón các cháu, tôi chạy đến báo tin cho Bác Lương Văn Ích biết, Lương Văn Ích là một “địa chỉ đỏ” của thiếu nhi Hoàng Liên Sơn ngày ấy. Nghe tin, Bác liền viết tay lá thư thăm hỏi, ngoài bì đề: Lương Văn Ích, Hoàng Liên Sơn, Kính gửi Anh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhận bức thư của người bạn giải phóng quân năm xưa mà mấy chục năm không gặp lại, tôi thấy Đại tướng chăm chú nhìn nét chữ trên phong bì rồi đưa cho người trợ lý của Bác và nói: “- Ích, trước là tiểu đội trưởng của tôi đấy!” Băng ghi âm của tôi ghi lúc đó, bây giờ nghe lại vẫn nguyên vẹn phút giây cảm động này.
Đã gần hai tiếng đồng hồ, Đại tướng một lần nữa căn dặn các cháu thiếu nhi học sinh, chúng tôi xin phép được chụp ảnh với Bác trước tiền sảnh ngôi nhà 30 Hoàng Diệu lịch sử. Các cháu bước lên xe, Đại tướng dặn những người phụ trách: “- Đi Sầm Sơn, các cháu tắm biển, phải cẩn thận đấy”. Tôi thưa “vâng”, càng hiểu tấm lòng của Đại tướng.
Tháng 7 năm 1993 Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào tuổi 82, tôi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Mù Cang Chải, anh Giàng A Chu nhờ thiết kế chương trình để Trường Dân tộc nội trú huyện tổ chức đoàn học sinh giỏi về thăm thủ đô và thực hiện nguyện vọng đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Sau khi chắp nối với Văn phòng Đại tướng và được Văn phòng hẹn ngày giờ. Từ Hà Nội đến thẳng nhà 30 Hoàng Diệu thì đã thấy các em thiếu nhi dân tộc Mông xúng xính trong bộ quần áo đẹp đứng dưới vườn cây nhà Đại tướng. Hiệu trưởng nhà trường ghé tai tôi: “- Đoàn đến sớm hơn giờ hẹn, Bác còn đang tiếp khách”. “Đúng thôi, 20 phút nữa cơ mà!”. Do chương trình của đoàn phải thay đổi nên thầy Hiệu trưởng xin phép cho các em được gặp gỡ Bác ngay tại sân vườn.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp như rất vui khi gặp các cháu học sinh dân tộc Mông Tây Bắc. Ông hỏi bằng tiếng Mông: “- Mề mồng cở tớ trầu chi trầu” (các cháu có đi học đều không?). Rồi ông lại hỏi: “- Mù Cang Chải của các cháu có ai đốt rẫy làm cháy rừng không?", và, “- Bố mẹ các cháu có hay chuyển bản mới không?”…
Câu chuyện giữa vị Đại tướng già với các cháu học sinh vừa như lời hỏi han vừa như cuộc đối thoại nhẹ nhàng, phảng phất nỗi canh cánh của ông với đồng bào dân tộc miền núi mà Đại tướng - người học trò tin cậy của Bác Hồ, chưa có điều kiện làm trọn.
Kết thúc cuộc gặp ngắn ngủi, xe các em, học sinh Trường dân tộc nội trú Mù Cang Chải đã lăn bánh. Tôi và con gái, cháu Hà Thúy Hằng 9 tuổi nán lại, tặng Bác cuốn sách Kỷ vật cuối cùng và xin được chụp chung với Bác một tấm ảnh. Bác vui vẻ nhận lời, anh thư kí văn phòng chuẩn bị bấm máy, bỗng Bác ra hiệu dừng lại, nhìn quanh thấy hai chị em đứa cháu nội và ngoại đang ném bóng ở sân vườn, ông liền vẫy lại rồi nói: “- Đứng vào đây để chụp ảnh”, thế là bố con tôi được tấm ảnh rất quý và duy nhất, tấm ảnh có hình Đại tướng, tôi, con gái Thúy Hằng, và hai cháu nội, ngoại của Người.
Ngày 15 tháng 8 năm 1997, để có thêm tư liệu làm rõ các chiến dịch: Lý Thường Kiệt (Thu đông 1951) và Tây Bắc (Thu đông 1952) giải phóng Nghĩa Lộ, từ trước đó một tháng, tôi đề xuất với Giám đốc Sở Văn hóa thông tin Nguyễn Ngọc Bái, gửi công văn về Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, xin phép cho được trực tiếp gặp và “phỏng vấn” Đại tướng Tổng Tư Lệnh về nội dung nêu trên. Do thời gian gấp tôi chỉ kịp mời thêm nhà báo Đặng Thị Thanh Hương ở Tạp chí Văn Nghệ Yên Bái (sau này chị là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đang công tác tại Hà Nội, và mời thêm nhà báo Nguyễn Hải phóng viên Đài truyền hình Việt Nam cùng tham gia buổi gặp.
10 giờ, mấy anh em được cảnh vệ đưa vào phòng khách Đại tướng ở 30 Hoàng Diệu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thư thái ngồi chờ. Sau lời chào hỏi trân trọng, tôi chưa kịp giở sổ, anh Hải còn đang loay hoay lắp máy quay thì Đại tướng trong bộ quân phục và nụ cười quen thuộc đã nói: “- Ta vào việc luôn nhỉ”. Tôi thưa “vâng”. Và đặt các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn (cũng là các câu hỏi gửi về Văn phòng Đại tướng trước đó). Nguyên văn câu hỏi trong buổi làm việc “lịch sử” đó là:
"- Thưa Đại tướng. Trước hết xin Đại tướng nói rõ hơn về chủ trương của Trung ương Đảng, của Bác Hồ và Tổng Quân ủy về quyết định mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952?"
"- Thưa Đại tướng, vậy Nghĩa Lộ có phải là trọng tâm của chiến dịch? Và chiến dịch Tây Bắc kết thúc như thế nào?"
"- Bác Hồ theo dõi chiến dịch Tây Bắc như thế nào, thưa Đại tướng?"
"- Những ngày chiến dịch Tây Bắc, giải phóng Nghĩa Lộ, Sở chỉ huy của Đại tướng đặt ở đâu? Và Bác đã liên lạc với các sư đoàn, các tướng lĩnh như thế nào?"
Và tôi cũng không quên hỏi điều thắc mắc từ mấy chục năm nay mà chưa có sử sách nào làm rõ. Ấy là: Vì sao chiến dịch Lý Thường Kiệt 1951 đánh vào trung tâm đồn Pú Chạng - Nghĩa Lộ, ta không giành thắng lợi mà còn chịu nhiều tổn thất? Câu hỏi này Tướng Võ Nguyên Giáp giải thích cặn kẽ nhưng chỉ cho ghi âm chứ không đồng ý ghi hình (tôi đã ghi lại cuộc gặp gỡ này qua bài viết Ngày thu thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp in trên Văn nghệ dân tộc miền núi của Hội Nhà Văn Việt Nam số 26 tháng 10 năm 1997).
Kết thúc buổi gặp, tôi xin được tặng Bác cuốn truyện dài Gió Mù Cang viết về Đội du kích Khau Phạ, Đại tướng nói: “- Ở Tây Bắc, lúc đó đội du kích Khau Phạ đánh rất giỏi”. Đại tướng vui vẻ nhận lời rồi bảo Đại tá trợ lý Nguyễn Huyên lấy tấm thiếp, ông đặt bút ghi trên mặt sau tấm thiếp có chữ mạ vàng “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”: “Cảm ơn Nhà văn Hà Lâm Kỳ đã tặng cuốn sách Gió Mù Cang, chân thành chúc đồng chí có những tác phẩm mới”. Đại tướng tiễn chúng tôi ra sân, tôi mạnh dạn hỏi Người về bốn câu thơ phác họa cuộc đời Đại tướng là của tác giả nào? Nghe xong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cười rất vui, và nói “- Của Tào Mạt đấy”. Bài thơ như sau:
Võ lược Văn tài loạn thế sinh
Khai Nguyên, định Giáp, quá trung tinh
Vi sư, vi tướng, vi nhân giả
Phát bạch, thanh tân, lạc thái bình.
Ngày 15 tháng 10 năm 1997 nhân kỷ niệm 45 năm ngày Giải phóng Nghĩa Lộ, tôi đang học bồi dưỡng tại Trường Đại học Văn hóa, một số sinh viên Yên Bái ngỏ ý muốn được đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Tổng chỉ huy chiến dịch Tây Bắc năm xưa. Sau khi liên hệ, Văn phòng Đại tướng thông báo là Bác đã nhận lời và hẹn ngày tiếp tại nhà riêng 30 Hoàng Diệu. Thế là Đoàn sinh viên Yên Bái của các trường Đại học ở Hà Nội được thành lập nhanh chóng với số lượng không quá 15 người. Đúng 14 giờ, tất cả có mặt tại cổng bảo vệ Tư dinh Đại tướng, anh Ngọc, cảnh vệ, đến bên thông báo, Bác Võ Nguyên Giáp mấy hôm nay đang nghỉ dưỡng trên Hồ Tây nhưng kế hoạch tiếp các sinh viên Yên Bái không có gì thay đổi. Đồng chí cảnh vệ nói: "- Đã gần đến giờ, ta đi luôn". Nhưng tiếc nỗi hầu hết các sinh viên đi phương tiện tiện tự do, mà anh cảnh vệ phải dẫn đường mới biết lối. Cả đoàn quyết định “xe ôm” lên Hồ Tây.
Khu biệt thự điều dưỡng của cán bộ cao cấp quân đội có lối vào khá quanh co. Đồng chí trợ lý ra đón, nói, cứ một lúc Bác lại hỏi: “các cháu đến chưa”. Thật cảm động, thời gian đã chậm hơn một giờ đồng hồ mà Bác vẫn cho phép gặp, và Đại tướng trong bộ quân phục giản dị đã ngồi trên chiếc ghế “Ba lan” bình dân trong phòng họp nhỏ, chờ đợi. Sau lời chào, tôi chỉ định hai sinh viên xuất sắc, đó là Đào Duy Tùng Đại học Ngoại giao, ngồi bên trái, và Nguyễn Thu Trang Đại học Ngoại ngữ ngồi bên phải Bác, tôi ngồi đối diện để được báo cáo đôi nét về thanh thiếu nhi Yên Bái.
Sau khi nghe những lời ngắn gọn, Đại tướng quay sang hỏi Trang: “- Tại sao cháu lại chọn ngành học ngoại ngữ?”, hỏi Tùng: “- Còn cháu, sao cháu lại chọn ngành học ngoại giao?” Tùng trả lời xong, Bác nhận xét: “- Trông cháu cũng ra dáng nhà ngoại giao đấy nhỉ!” Tất cả cùng cười. Thấy các chén nước trên bàn vẫn còn nguyên, Bác nâng một chén đưa đến tôi và nói: “- Nào mời đồng chí phụ trách và các cháu cụng ly". Tất cả lại cười và cùng chạm ly nước chè với Đại tướng Tổng Tư Lệnh. Tôi thưa với Bác, trong đoàn có chị Trâm, sinh viên tại chức Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội, là vợ Liệt sỹ thiếu tá không quân Lê Văn Dũng hy sinh trong khi bay huấn luyện tại sân bay Yên Bái. Đại tướng ngẩng nhìn và hỏi han về điều kiện gia đình của Trâm, rồi dặn: “- Cháu phải cố gắng học, tham gia công tác xã hội để xứng đáng với sự hi sinh của chồng cháu". Lời ân cần của Đại tướng nguyên Bộ trưởng Quốc phòng khiến Trâm rơm rớm nước mắt.
Rời phòng tiếp, bác cháu cùng thong thả rảo bước trên khuôn viên khu điều dưỡng. Tôi đi nhanh rồi ngoảnh lại bấm máy, tấm ảnh có tên “ Người vợ liệt sỹ về bên Đại tướng”, rất vừa ý, tôi tặng Trâm mà không nghĩ ra việc lưu ảnh gốc.
Ngày 02 tháng 9 năm 2003, với tư cách Hiệu trưởng Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật miền núi (nay là Trường Cao đẳng), tôi dẫn đầu đoàn giáo viên - sinh viên thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Do là ngày Quốc Khánh, Đại tướng rất bận, mà vẫn nhận lời. Tôi thấy các đoàn: Bộ Công an, Tỉnh ủy Quảng Bình, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh còn ở phòng chờ, nghĩ rằng khó hy vọng gặp được Bác. Chiều lòng các em học sinh sinh viên các dân tộc miền núi, Đại tá Nguyễn Huyên - người trợ lý có gần 40 năm phục vụ Đại tướng, nhắc các đoàn Trung ương rút ngắn thời gian. Và rồi Đại tướng xuất hiện trong bộ lễ phục trắng gắn tấm Huy hiệu Huân chương sao vàng. Sau Bác là phu nhân Đặng Bích Hà, và Đại tá Nguyễn Huyên Bí thư Văn phòng Đại tướng. Rất nhiều phóng viên quay phim chụp ảnh.
Tôi báo cáo tóm tắt về tình hình phát triển của nhà trường, rồi giới thiệu em Lý Thị Nhung dân tộc Mông nói lời cảm nghĩ, em Hoàng Văn Đạt đọc tấu đàn bầu bản nhạc Vì Miền Nam của nhạc sỹ Huy Thục, Đại tướng chăm chú lắng nghe rồi bất ngờ hỏi:
- Các cháu học Trường Văn hóa Nghệ thuật?
- Thưa Bác, vâng ạ.
- Văn hóa nghệ thuật dân tộc là nguồn lực tinh thần của đất nước, cần phải giữ gìn và phát triển. Các thầy cô giáo và các cháu là những người sẽ cố gắng tham gia vào việc giữ gìn và phát huy vốn văn hóa đó.
Tôi đứng lên hứa với Bác, rồi tặng Bác chiếc khèn bè của dân tộc Thái Mường Lò. Đại tướng vui vẻ nhận, sau đó quay sang nói tiếng Cao Lan với em Hoàng Thị Gương, và nói tiếng Mông với em Khang A Chua, không khí buổi gặp gỡ rất vui và cảm động. Trước khi ra tiền sảnh nhà riêng chụp ảnh, tôi ngỏ ý mời Bác ghi bút tích lưu niệm vào tấm ảnh quý có chân dung Bác Hồ, và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp chụp chung năm 1951 tại Việt Bắc. Đại tướng ngẩng nhìn trợ lý Nguyễn Huyên hỏi “- Ghi như thế nào được nhỉ?” Đại tá Huyên ngoảnh lại hỏi tôi, tôi mạnh dạn nêu ý chính. Đại tướng Tổng Tư Lệnh liền đưa bút ở khoảng trống bức ảnh lớn những dòng chữ rất đẹp với nội dung: “Chúc các cháu Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Yên Bái, học thật giỏi, gương mẫu trong công tác, luôn vì nước vì dân, xứng đáng là cháu ngoan của Bác Hồ". Ngày 02 tháng 9 năm 2003. Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Được về bên Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Người học trò xuất sắc và là người cộng sự rất gần gũi của Bác Hồ trong thời gian sức khỏe của Đại tướng mẫn tiệp là một niềm vui lớn đối với tôi và cả gia đình. Những câu chuyện bên Người trong các lần gặp gỡ trên chưa thể nói đầy đủ trong bài viết đầu xuân nhân thời điểm Đại tướng bước qua trăm tuổi. Cảm xúc thiêng liêng ấy xin được góp vào Hồng phúc đất nước.


