Cựu chiến binh

NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRÊN GHẾ ĐÁ VÀ LỜI HẸN ƯỚC HÒA BÌNH

NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRÊN GHẾ ĐÁ VÀ LỜI HẸN ƯỚC HÒA BÌNH

Thanh Hóa25/09/2026Xã Nam Xuân (Xã Nam Xuân)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh giống như một chiếc sàng khổng lồ, nó sàng lọc và lấy đi của chúng tôi quá nhiều thứ, đặc biệt là những người bạn đồng trang lứa. Trong ký ức của tôi, những năm tháng cuối cùng của bậc tiểu học, khoảng giai đoạn 1972–1973, là một chuỗi những sự chia ly đầy nước mắt nhưng cũng vô cùng kiêu hùng. Đó là lúc chúng tôi lớn lên, nhận thức được trách nhiệm của mình với Tổ quốc, và cũng là lúc tôi phải chứng kiến lớp học của mình ngày một vắng vẻ đi. 

Lớp học ghép của chúng tôi ban đầu có hơn mười mấy học sinh cùng độ tuổi hoặc chênh lệch vài tuổi. Chúng tôi đã cùng nhau chia đôi củ sắn luộc, cùng nhau chạy bom dưới hầm tăng-xê, cùng nhau đọc bài dưới ánh đèn dầu hang đá. Chúng tôi thân nhau như anh em một nhà, hiểu rõ từng tính nết, từng ước mơ của nhau. Đứa thì ước sau này làm bác sĩ chữa bệnh cho dân bản, đứa thì ước làm kỹ sư xây những ngôi nhà sàn không bao giờ bị cháy. 

Thế nhưng, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go nhất, tiếng gọi của tiền tuyến đã vang lên dọc theo các bản làng Nam Xuân. thanh niên trai tráng lần lượt lên đường. Và rồi, những người bạn học ngồi ngay cạnh tôi, những chàng trai mới mẻ mười lăm, mười sáu tuổi, ngực còn chưa nở nang hết, cũng quyết định gác lại bút nghiên để viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Họ từ bỏ con chữ, từ bỏ những ước mơ giảng đường để cầm súng bước vào trận tuyến. 

Tôi nhớ như in cái ngày bạn Lò Văn Minh – người bạn ngồi cùng bàn với tôi – lên đường. Đêm trước ngày nhập ngũ, Minh đến nhà tôi, hai đứa ngồi trên bực cửa sàn nhìn ra khoảng trời đêm xa xăm. Minh đưa cho tôi một cây bút máy cũ bị nứt vỏ, giọng nghẹn ngào: “Truật ơi, tao đi bộ đội đây. Mày ở lại phải cố mà học hết chữ nhé. Học thay cả phần của tao nữa. Hòa bình về, tao lại về đây ngồi học tiếp với mày”. Hôm sau, trên lớp học, vị trí ngồi của Minh bỏ trống. Một khoảng trống hoác trên chiếc ghế bằng thân cây bổ đôi. Tôi nhìn vào khoảng trống ấy, lòng thắt lại, nước mắt cứ thế trào ra, nhòe đi cả những dòng chữ thầy giáo đang viết trên bảng. 

Rồi những tuần tiếp theo, lại thêm bạn Thào A Sinh, bạn Hoàng Văn Đức lần lượt rời lớp để ra trận. Mỗi lần một người bạn ra đi, lớp học lại rộng ra một chút, nhưng lòng chúng tôi lại chật đi vì nỗi nhớ và sự lo lắng. Đến ngày kỳ thi tốt nghiệp diễn ra, căn phòng hang đá ngày nào từng rộn rã tiếng cười đùa giờ trở nên vắng lặng đến tê tái. Cả lớp học chỉ còn lại đúng năm học sinh. Năm người chúng tôi ngồi lọt thỏm giữa không gian rộng lớn của hang đá, làm bài thi trong tiếng gầm rú vọng lại từ mặt trận phía xa. Chúng tôi nhìn nhau, không ai nói lời nào, nhưng trong ánh mắt của mỗi người đều hiện lên một lời thề ngầm: Phải sống, phải học để xứng đáng với những người đã đi xa. 

Hòa bình lập tức trở lại vào năm 1975, đất nước trọn niềm vui thống nhất. Nhưng trong ngày hội ngộ của bản làng, những người bạn học ngày ấy của tôi đã không bao giờ trở về nữa. Bạn Lò Văn Minh ngã xuống ở chiến trường Quảng Trị khi tuổi đời mới tròn mười bảy. Bạn Thào A Sinh nằm lại dưới làn bom rải thảm ở ngã ba Đồng Lộc. Những lời hẹn ước quay về ngồi chung bàn học, cùng nhau viết tiếp ước mơ thời trẻ dại đã mãi mãi gửi lại nơi đất mẹ chiến trường. Họ đã hiến dâng cả tuổi thơ, cả thanh xuân và mạng sống của mình để đổi lấy màu xanh hòa bình cho cánh đồng Nam Xuân hôm nay. 

Hòa bình mà chúng ta, cũng như thế hệ trẻ ngày nay đang được hưởng thụ mỗi ngày, được tự do đi lại, tự do lựa chọn tương lai, không phải là một điều ngẫu nhiên hay một món quà miễn phí của lịch sử. Nó được đổi bằng xương máu của các thế lính ngoài mặt trận, và được đánh đổi bằng cả những khoảng trống không bao giờ lấp đầy trên những chiếc ghế đá trường học năm xưa. Những người bạn của cha đã ngã xuống khi chưa kịp yêu, chưa kịp hoàn thành ước mơ học vấn của mình. 

Tôi mong thế hệ trẻ hôm nay hãy sống một cuộc đời có trách nhiệm. Khi các cháu được ngồi trong những giảng đường đại học khang trang, hãy nhớ rằng mình đang học cho cả phần của những người đã phải bỏ dở con chữ để cầm súng. Hãy nuôi dưỡng những lý tưởng cao đẹp, sống cống hiến và tử tế. Đừng để sự hy sinh của thế hệ cha ông trở nên vô nghĩa. Hãy xây dựng quê hương Nam Xuân, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, như chính ước nguyện cháy bỏng của những người bạn học năm xưa của cha trước lúc ra đi. 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn