Anh hùng Lực lượng vũ trang

NHỮNG KỶ NIỆM VỚI TRẦN CẦN KIỆM

NHỮNG KỶ NIỆM VỚI TRẦN CẦN KIỆM

Lai Châu12/02/2026NGHIÊM HÀ4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đầu năm 1966 nhóm phóng viên thông tấn chúng tôi được giao nhiệm vụ đi với anh Ngô Thế Kỷ, phụ trách phòng phát thành quân đội vào B2 xây dựng phân xã Quân giải phóng thuộc Thông tấn xã giải phóng. Nhưng không hiểu vì lý do gì, đến trạm tập kết của "R" ở Đồng Xoài, tôi được đón về B8 - Điện ảnh Quân Giải phóng, còn đồng chí Nguyễn Văn Năng cũng là phóng viên nhiếp ảnh dọc đường bị sốt rét, sẽ về sau, bốn đồng chí phóng viên viết tin: Lê Minh (anh ruột nhà văn Triệu Bôn), Nguyễn Duy Khải, Mai Bá Thiện, Đỗ Công Viện thi về A3 - Báo Quân giải phỏng.


Về đây tôi gặp nhiều anh em từng được đào tạo bài bản từ xưởng phim Quân đội nhân dân chi viện vao như Vũ Thập, Nguyễn Quế, Trọng Hội, Quang Đạt, Dương Phước An, Cần Kiệm v.v... Số anh em nhiếp ảnh từ Bắc vào, có lẽ mới thêm có mình tôi, tôi được phân về Ban nhiếp ảnh cùng với Trường Sơn, Kiên Trì và Thanh Tịnh.


Ở xưởng phim Quân giải phóng, mỗi lần đi chiến dịch hoặc đi công tác trong hậu cứ thu thập tư liệu, Ban phụ trách thường bố trí anh em thành từng tổ gồm: Một quay phim chính, một phụ và một nhiếp ảnh; tôi và Cần Kiệm nhiều lần đi với nhau trong một đội hình như vậv. Anh hơn tôi một giáp nhưng ý hợp tâm đầu. Tôi và cần Kiệm đều được học hành có hệ thống về chuyên môn nên hay "lý thuyết" với nhau về tạo hình, về kỹ thuật và học thuật. Con người Cần Kiệm cũng rất lạ, cứ đụng với anh về vấn đề này là dứt không ra. Tôi thì mới ra trường, lý luận ứ đọng, anh thì thực tiễn đầy ắp. Vì thế mà tôi và Càn Kiệm đã nhiều lần "đụng độ" với nhau.


Anh là trai Tây Đô, tập kết ra Bắc được học hành đến nơi đến chốn, người cao, mắt sâu, râu rậm, tướng mạo trông rất "ngon lành", vậy mà những năm tháng ở đất Bắc chưa hề hứa hẹn cùng ai. Ấy là cái lần anh Kiệm rủ tôi sang B6 (Văn công Quân giải phóng) chơi. Vừa luồn rừng, vừa ngậm điếu thuốc "rê", anh hỏi tôi:

- Nghiêm Hà khi vào đây, người yêu hẹn thế nào?

Tôi trả lời anh và khi hỏi lại anh, thì biết vậy?

Điện ảnh và văn công ở cách nhau khoảng 15 phút đường rừng, nên có mối quan hệ chặt chẽ trong công việc cũng như trong tình cảm. Tôi và anh Kiệm hay sang B6 chơi lắm. Những lần đi chơi tiếp xúc với anh chị em tôi thấy anh Kiệm còn có tài hùng biện. Với phong cách chững chạc, phương pháp hấp dẫn, kết hợp diễn tả sự việc bằng mắt, bằng tay, bằng mồm, anh nói chuyện gì cũng thu hút mọi người. Có lẽ những năm tháng ở Hà Nội anh đọc nhiều, nhớ được nhiều. Anh nói chuyện văn chương, nói chuyện âm nhạc rất say sưa; nói với dăm bảy người quanh bàn trà mà cứ như diễn thuyết, mồ hôi lấm tấm trên vành ria mép. Có lần anh cầm đờn dạo một bản nhạc theo điệu "Khổng Minh toạ lầu" rất mùi mẫn và điệu nghệ. Anh còn bình luận dẫn dắt tình cảm của nội dung bản nhạc một cách thú vị.


Cần Kiệm là con người cẩn thận, tỉ mỉ, cảnh giác. Tôi nhớ mãi lần làm nhiệm vụ ở Đại hội anh hùng lần thứ II xong, khi về, cơ quan tham mưu thông báo trên đường dây có biệt kích, anh dặn tôi kinh nghiệm đi đường phải hết sức giữ bí mật, không gây tiếng động trong lúc đi, như tiếng óc ách của bình tông nước, tiếng lạch cạch của các thứ lủng củng đeo ở thắt lưng và cách quan sát phía trước, hai bên đường; luôn phải đặt tình huống trong đầu "nếu phía trước địch xuất hiện, bất ngờ nổ súng" thì ta phải náp vào gò mối nào, gốc cây nào để vừa tự vệ, vừa chiến đấu được.


Suốt một ngày hành quân trong trang thái thần kinh căng thẳng như vậy, về đến bãi khách cách căn cứ chừng 1 giờ đồng hồ thì trời tối hẳn. Tôi nêu ý kiến nghỉ lại, mai về sớm, chắc an toàn rồi. Cần Kiêm đồng ý, nhưng yêu cầu tôi tìm chỗ khuất, không mắc tăng và không được nấu nướng, không được soi đèn pin, im lặng mắc võng ngủ. Tôi hơi bực, nhưng mệt và đói, có nắm cơm lúc trưa ăn hết rồi, tôi không tranh luận.


Cần Kiệm nằm trên võng, rút khẩu súng ngắn để ở tư thế sẵn sàng. Tói còn ngồi trên võng ăn thìa đường, uống ngụm nước cuối cùng và im lặng. Bỗng tôi phát hiện xa xa phía cuối bãi khách có đốm lửa của thuốc lá, tôi ghé tai Cần Kiệm thì thầm:

- Cuối bãi khách có quân ta, lại xin bọn họ điếu thuốc.

Tôi gợi ý như vậy vì tôi biết anh nghiện thuốc nhưng đã hết, Cần Kiệm gạt phắt đi bảo "ngủ thôi"...

Vì mệt, sáng bạch hôm sau chúng tôi mới tỉnh dậy, cuốn võng đi, lúc qua cuối bãi khách tôi chỉ chỗ tối hôm qua có đốm lửa, cách đường mòn chừng mười mét và nói:

- Bọn này vội gì mà đi sớm thế?

Với con mắt sắc sảo, Cần Kiệm kéo tôi vào, thì hoá ra là bọn thám báo! Chúng con để lại dấu vết là vỏ đồ hộp và bao thuốc lá "Quân tiếp vụ".

Thật là hú vía, nếu tối qua mò sang, chắc là chúng xơi tái, sáng nay chúng dậy trước, nhưng không phát hiện ra chúng tôi, vì bọn tôi nằm khuất và không căng tăng. Thế là vì chúng tôi không biết chúng chúng nó là ai, chúng nó không phát hiện ra chúng tôi, nên đã không xảy ra chuyện gì. Bí mật, bất ngờ, cẩn tắc mà Cần Kiệm hay nói đã giúp tôi bài học sâu sắc.


Chuẩn bị cho Mậu Thân 68, đội quay do cần Kiệm quay chính, Bất Diệt phụ và Nghiêm Hà chụp Inh là đội hình duv nhất của Quân giải phóng, phôi hợp với Điện ảnh Giải phóng sẽ vào tiếp quản Sài Gòn, ghi những hình ảnh lịch sử. Nhưng dấu son đó đã không thành. Sang thời điểm của đợt II, bọn địch đã lấy lại bình tĩnh, giành thế chủ động, chúng nống ra với chiến thuật "Thiết xa vận", dùng xe bọc thép càn, ủi, uy hiếp tinh thần quân ta.


Bọn tôi nóng ruột quá, nhào xuống E2, F9, anh Út Thới (là Trung tướng Nguyễn Thới Bưng sau này làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) vui vẻ giới thiệu với cơ quan tham mưu và đề nghị chúng tôi xuống D5. Ban chỉ huy tiểu đoàn phấn chấn điện cho các đại đội là trận tập kích cụm xe dã chiến ở Đức Huệ đêm nay có các nhà quay phim quân đội đi cùng, làm nức lòng cán bộ chiến sĩ đại đội chủ công.


Trước giờ xuất kích, Cần Kiệm triệu tập họp tổ Đảng vì chiều lúc dự họp nghe phổ biến kế hoạch ở trên Tiểu đoàn về tôi nêu ý kiến đi quay, chụp đánh kích ban đêm thì không làm ăn được gì? Mà có khi lại thương vong cần tính toán kỹ”. Với danh nghĩa tổ trưởng, Cần Kiệm quyết định đi tất cả, dù không quay, chụp được gì cũng đi, thương vong cũng đi, đây là công tác tư tưởng, công tác chính trị...


Mờ sáng hôm sau, đi trong đội hình rút quân về căn cứ, biết chúng tôi là đội quay phim, bộ đội hoan hô chúng tôi và tin chắc rằng những chiếc xe tăng cháy đã lọt vào ống kính. Tôi chẳng chụp được gì, nhưng thấm thía một điều: người phóng viên quay phim, chụp ảnh mặt trận, không chỉ làm nhiệm vụ ghi hình ảnh thắng lợi của ta, thất bại của địch mà còn là những người làm công tác tư tưởng rất hiệu quả.


Sau trận tập kích thắng lợi, tiểu đoàn 5 bị trực thăng, pháo binh truy kích liên tục, ban ngay ở trong dân, ban đêm di chuyển, đội quay chúng tôi luôn bám sát tiểu đoàn bộ, đến mờ sáng ngày thứ 3 thì đội hình tiểu đoàn bị lộ, 5 trực thăng, 3 AD6 thay nhau oanh tạc. Căn hầm nổi trên bờ ruộng, cách ban chỉ huy tiểu đoàn chừng 100m chỗ chúng tôi nằm, lần thứ ba quả bom đã nổ gần kề, chờ cho quả bom của chiếc AD6 cuối cùng nổ, Cần Kiệm "tốc hầm" hô chúng tôi chạy theo bờ ruộng, ra xa khoảng 100m nữa, chui vào một cái hầm của trinh sát.


Sau đợt bom thứ tư, bọn AD6 bay đi - chắc hẽt bom, chỉ còn bọn trực thăng quần đảo trên không. Tiểu đoàn ra lệnh rút tiếp. Khi qua chỗ hầm cũ thì tôi chỉ thấy có cái "đĩa", thật may, chậm chút nữa, chắc không ai còn mảnh xác.


Cuối đợt II tổng tấn công, tôi bị thương đi viện và từ đó về, tôi làm công tác biên tập; đến cuối năm 1970 ra Bắc an dưỡng, vẫn theo dõi tin tức anh em B8, biết Cần Kiệm vẫn cầm máy và đã lấy vợ, cô y sĩ của đoàn văn công Quân Giai phóng. Giữa lúc cuộc đấu tranh và kháng chiến gần đến ngày thắng lợi vào cuối năm 1972 anh đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, để lại đứa con trai Trần Cần Thơ, khôi ngô, tuấn tú, giống bố như đúc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn