Những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ
Tôi là Nguyễn Văn Mùi, sinh năm 1942 tại xã Giới Phiên, nhà bố mẹ tôi sinh được 10 người. Thời chống giặc Pháp, bố tôi làm chủ tịch mặt trận Việt Minh. Từ 1944 đến 1954 gia đình tôi bị quy thành phận địa chủ
Anh trai sinh năm 1935 xung phong đi bộ đội đóng quân ở Trái Hút. Bố tôi được tặng huy chương chống Pháp hạng hai, anh trai được tặng huân chương kháng chiến hạng ba.
Ngày mùng 8 tháng 4 1968 tôi được gọi đi bộ đội cùng bảy người tập trung tại nhà ông Ao, ông Chu, xã Văn Tiến, Tân Thịnh chúng tôi hành quân đi bộ sang ở Làng Vang, làng Thâm
Tôi được biên chế vào A1 do Nguyễn Xuân Thành làm a trưởng, B1 do ông Cơ làm chung đội trưởng. C1 do ông Nguyễn Đình Cầm làm đại đội trưởng, ông Nguyễn Thanh Tùng là chính trị trưởng, ông Điền là đại đội phó
Tuần đầu chúng tôi học quy ước của quân đội, học các phép tắc của người lính. Tuần thứ hai chúng tôi được tự viết quyết tâm thư
Cứ sáng thứ 2 hàng tuần, bài quyết tâm thư của tôi được đồng chí Khánh ở xã bảo đáp là liên lạc của ông Tấn, tiểu đoàn trưởng, đọc trước cửa tổ quốc. Huấn luyện hai tháng hoàn thành các khoa mục, kể cả cách đánh xe tăng, đến tháng thứ 3 là hành quân dã ngoại. Riêng tôi, đại đội tiểu đoàn trưng tập đi viết theo yêu cầu của đại đội tiểu đoàn trung đoàn cuối tháng 7 1967, đoàn chúng tôi hành quân bộ vào Nam. Đoàn chúng tôi là đoàn 3032 được tàu hỏa đón từ ga Hà Nội đi đến ga Thanh Hóa hành quân tiếp qua Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình rồi vào Quảng Trị đi qua. Đồn 1007 ở Quảng Trị
Đoàn chúng tôi vừa đi vừa tham gia bốc súng đạn, lương thực chuyển lên ô tô vào Nam. Khoảng tháng 9 năm 1968 đoàn chúng tôi đã vào đất KuBai
Tất cả đoàn từ lương thực đến lính D8a có 4 đại đội tăng cường nhập vào phân trại 161 thuộc binh trạm 9 đoàn 559 của cụ Đồng Sỹ Nguyên chỉ huy
Tôi vừa vào một tuần thì trên lấy tôi và Nguyễn Khắc Lân, anh Thạch lên phân trạm vào trung đội thông địa hữu tuyến, anh Lân, anh Thạch đi giảng dạy, còn tôi được tham gia trực tổng đài 12 cửa. Sang năm 1969, địch thả đơn vị pháo ngăn đường
Vận chuyển lương thực, gạo cho vào bao rồi thả trôi trên sông. Ban hiên vào nam, tôi được tham gia trận đánh do bác Phạm Thanh Thủy chỉ huy, đánh tọt pháo binh Mỹ, chúng tôi thắng, tiêu diệt địch
Phá hủy ba khẩu pháo của địch năm 1970 đơn vị cử tôi bảo vệ ba ki lô mét đường dây phục vụ liên lạc bốn đại đội đường sông. Tôi liên hệ với tổng đài dây trần để hợp đồng tác chiến được tham mưu trưởng lê khưu
Tuyên Dương sau đó cho tôi vào đội bắn tỉa Mỹ ở sông Xa Mùi. Tôi đã hoàn thành, đầu năm 1971 lại cho tôi đi chốt ở Đắc Tô, tân cảnh lúc này nhiều khi không có cơm ăn, chỉ ăn lương khô, uống nước, cho một viên thuốc khử khuẩn vào bi đông, lắc lên uống dần. Đồng đội tôi có người không chịu được cái khổ đã bỏ trốn
Tôi bị bom đạn, lúc này bị vùi lấp, đồng đội cứu tôi và tôi bị sốt rét ác tính đưa vào bệnh xám người tám lúc này tôi chỉ nặng ba hai cân. Được y bác sĩ Nguyễn Thị Mai Lân cứu chữa. Sau đó tôi ra bệnh viện 41 ở Quảng Bình được bác sĩ Nguyễn Văn Sáu chữa và được ra Bắc an dưỡng ở đòi 222 quân khu Việt Bắc
Về đoàn an dưỡng, tôi được đoàn cử tham gia đội văn nghệ tuyên truyền cho lính an dưỡng vui khỏe. Tôi thi vào học viện quân sự, đỗ nhưng chỉ nặng ba bảy ki lô gam. Học viện không tuyển. Lúc đó tôi lại đỗ sư phạm nhưng ông tổng giám đốc Tạ Hoàng Cơ ngân hàng trung ương lấy. Thế là tôi đã chuyển ngành đi ngân hàng. Lúc tôi còn an dưỡng, đoàn giám định thương tật cho tôi sáu vết thương, họ bảo phần mềm chỉ cho 16 phần trăm. Tôi không nghe. Tôi có anh rể Lê Chí bảo tôi nhận để chuyển ngành. Thế là tôi nghe anh lính. Hai tháng trợ cấp của hạ sĩ 84 đồng. Anh chí là chủ nhiệm quân y hiện nay. Tôi luôn bị các vết thương khi trở trời hành hạ bị ngứa toàn thân


