NHỮNG LÁ THƯ GỬI VỀ TỪ CHIẾN TRƯỜNG
Nếu thư gửi từ chiến trường khắc họa tâm tư, tình cảm, cuộc sống chiến đấu của chiến sĩ thì thư của hậu phương gửi gắm niềm thương, nỗi nhớ của người ở lại. Trong chiến tranh, chỉ một dòng thư cũng có thể tiếp sức cho người lính, giữ vững tư tưởng để chiến đấu vì Tổ quốc.

NHỮNG LÁ THƯ GỬI VỀ TỪ CHIẾN TRƯỜNG (Phần 3)
Nếu thư gửi từ chiến trường khắc họa tâm tư, tình cảm, cuộc sống chiến đấu của chiến sĩ thì thư của hậu phương gửi gắm niềm thương, nỗi nhớ của người ở lại. Trong chiến tranh, chỉ một dòng thư cũng có thể tiếp sức cho người lính, giữ vững tư tưởng để chiến đấu vì Tổ quốc.
Ở nơi hậu phương, sau khi nhận được thư chúc Tết của chồng từ chiến trường, bà Kim Thanh, xã An Ninh, huyện Bình Lục vội viết thư hồi âm cho chồng là Lê Trọng Ngọ, hòm thư 9156 NĐ, K6,C3.
Bà viết: “Anh cứ yên tâm chiến đấu, em mong anh chiến đấu sao cho xứng đáng là một Đảng viên ưu tú. Còn bao nhiêu công việc gia đình anh hãy tin em là người vợ đảm đang của anh, em sẽ đảm đương tất cả…”.
Đó không chỉ là lời nhắn nhủ, mà còn là một lời hứa, một lời tuyên thệ. Như bao người phụ nữ khác thời ấy, bà Kim Thanh trở thành trụ cột gia đình khi chồng ra trận, vừa lo toan ruộng đồng, vừa nuôi con, học văn hóa, tích cực tham gia bồi dưỡng chính trị để “xứng đáng với tiêu chuẩn” mà chồng dặn. Bà không viết nhiều về những nhọc nhằn, không than thở mà ngược lại, giọng điệu vẫn lạc quan, đầy tự tin và trách nhiệm.
Bà kể về những đổi thay sau ngày ông đi: “Mẹ vẫn khỏe, họ hàng yên ổn, còn bà thì ‘khỏe và béo lắm’, không còn yếu ớt như xưa, đang học tiếp lớp 6, quyết tâm thay đổi toàn diện để “bao giờ thống nhất anh về thì sẽ thấy em khác hẳn”. Đoạn thư như một cách để chồng bà ngoài mặt trận yên tâm rằng: phía sau lưng ông luôn có một hậu phương vững vàng. Tình yêu đôi lứa song hành với trách nhiệm và lý tưởng, cùng nhau chiến đấu vì đất nước.
Thư của bà Kim Thanh, giống như hàng triệu lá thư khác thời chiến, không chỉ động viên người ra trận, mà còn là minh chứng cho tinh thần toàn dân kháng chiến. Vợ chồng bà ở hai đầu Tổ quốc nhưng chung một mặt trận: mặt trận niềm tin. Họ tin vào một tương lai thống nhất, đất nước độc lập, tự do. Tình yêu trong chiến tranh không phải là những cuộc hẹn hò tay trong tay, mà là từng dòng chữ viết vội, là lời dặn dò cố gắng giữ gìn sức khỏe, là nỗi nhớ được nén lại: “Em muốn viết nhiều nhưng không cho phép, chờ khi nào thống nhất anh về em nói nhiều anh nghe”.
Ngoài thư từ hậu phương, các chiến sĩ còn nhận sự khích lệ từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, những bức thư cổ động được xem như “mệnh lệnh từ trái tim”. Những cánh thư mang theo cả khát vọng thống nhất, là ánh sáng dẫn đường, “truyền lửa” cho người lính nơi chiến trường.
Ngày 19/12/1965, nhân kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Bác gửi điện chúc mừng, cho thấy sự tin tưởng vào năng lực của Mặt trận: “Tôi tin chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Mặt trận Dân tộc giải phóng, có lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị hùng mạnh, có kinh nghiệm dồi dào, có khối đại đoàn kết của nhân dân cả nước, lại được nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đồng tình và ủng hộ, đồng bào miền Nam ta nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Miền Nam Việt Nam nhất định sẽ được giải phóng! Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ được hòa bình, thống nhất! Đồng bào ta ở hai miền Nam Bắc nhất định sẽ được sum họp một nhà!”.
Trong bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng Bí thư Lê Duẩn ngày 10/3/1968, bằng văn phong giản dị, Người bàn về việc sắp xếp để vào Nam, thể hiện mong mỏi, khát khao và tình cảm dành cho nơi đây. Bác viết: “Chú Duẩn thân mến. Nhớ lại mùa nô-en năm ngoái, Chú có ý khuyên B (Bác) đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. B rất tán thành. Nhưng nay, chỉ đổi chữ ‘sau’ thành chữ ‘trước’ ngày thắng lợi hoàn toàn, tức là đi thăm khi anh em trỏng (trong ấy) đang chuẩn bị mở màn thứ 3. Đi thăm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em”.
Không chờ đến ngày thắng lợi mới vào thăm miền Nam, Bác quyết tâm đi trong lúc sục sôi chiến đấu, bởi như vậy "mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em". Dù ở xa, Người vẫn nắm thông tin, hướng về miền Nam ruột thịt. Tuy nhiên, khi ấy Người đã tuổi cao sức yếu, toàn miền Nam vừa thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, chiến trường ác liệt, điều kiện đi lại khó khăn. Mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa đã không thành hiện thực. Song, cả nước đồng lòng thực hiện di nguyện thống nhất đất nước của Người. Mùa xuân lịch sử ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông nối liền một dải.
Nói về ý nghĩa của thư thời chiến, đại tá Phùng Quang Học, Phó Hệ trưởng Học viện Quốc phòng cho biết đó là những kỷ vật mang giá trị tinh thần to lớn, không chỉ với gia đình liệt sĩ mà còn có ý nghĩa giáo dục với thế hệ sau: “Những hiện vật, bảo vật có ý nghĩa giáo dục về “học tập suốt đời” cho thế hệ trẻ trong nước và quốc tế. Thông qua đó, thế hệ ngày nay hiểu được giá trị của hai tiếng tự do”.



