Bài viết

Những lá thư không kịp gửi

“Xin được gửi tới nhà thơ Đặng Vương Hưng những lá thư thời chiến viết đã hơn 40 năm, nhưng chắc chắn người thân của những chiến sĩ này chưa bao giờ được đọc, vì người lính chuyển thư ấy đã ngã xuống khi thư chưa kịp gửi đi...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Xin được gửi tới nhà thơ Đặng Vương Hưng những lá thư thời chiến viết đã hơn 40 năm, nhưng chắc chắn người thân của những chiến sĩ này chưa bao giờ được đọc, vì người lính chuyển thư ấy đã ngã xuống khi thư chưa kịp gửi đi... Tôi không rành miền Bắc lắm nên qua anh có thể gửi về cho gia đình họ và hy vọng linh hồn người liệt sĩ này được thanh thản, siêu thoát...”. Đó là những dòng thư tâm sự của một bạn đọc có số điện thoại 0903507357. Anh gửi đến cho tôi 3 lá thư có trong tài liệu được lấy từ thông tin của Chương trình “Cựu chiến binh ra tay”-một tổ chức của Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam sau chiến tranh.

Qua thông tin này ta có thể dự đoán: Một chiến sĩ Quân Giải phóng trong lúc chuyển 3 bức thư này đã hy sinh và những lá thư đó lọt vào tay một người lính Mỹ. Tài liệu ghi rõ ngày xảy ra sự kiện là trong khoảng thời gian 1967-1968, ở một ngôi làng cách khoảng 50 dặm về phía bắc của thành phố Đà Nẵng. Không rõ nơi chôn, số thi thể của những chiến sĩ hy sinh. Toán lính Mỹ liên hệ là lính thủy đánh bộ Mỹ, tin tức liên quan chỉ có mấy dòng ghi chú: “Những lá thư được lấy từ thi thể của người lính Bắc Việt”.

Thư số 1:

Xuân Sanh - 354 Thanh Khiết

Chiến trường miền Nam

Mẹ thân yêu của con!

Xa mẹ nhớ mẹ và thương mẹ vô cùng, chính những lúc này, sống nơi đất khách quê người, nghĩ đến mẹ con ân hận vô cùng về những ngày con sống với mẹ, con đã làm phiền mẹ. Nhớ những lúc con làm nũng mẹ, bắt mẹ đi chợ mua quà, rồi tới khi con trở thành anh cán bộ có lương bổng đàng hoàng, thế mà vẫn chẳng giúp đỡ gì mẹ. Nhớ những ngày con sắp xa mẹ, chuẩn bị lên đường nhập ngũ, có những đêm con trằn trọc không ngủ, mẹ cũng thao thức vì con. Rồi ngày chia tay, con nhớ mãi hình ảnh mẹ đứng ở cổng Tỉnh đội tiễn con mà hai hàng nước mắt mẹ cứ chảy ròng, con không dám nhìn mẹ, con sợ không cầm được nước mắt.

Ngày ấy đến nay đã 4 năm. Con cứ nghĩ mà thương mẹ vô cùng, ngay cái chuyện riêng tư của con mà mẹ cũng phải thúc giục, con muốn tìm một người con dâu cho mẹ thật vừa lòng và có những đứa cháu nội thật ngoan. Nhưng nay thì chịu rồi, con sẽ hoãn tất cả lại đợi ngày chiến thắng, ngày thống nhất. Giá lúc ấy mà gia đình ta sum họp thì vui sướng biết chừng nào.

Mẹ kính mến! Độ này mẹ sống ra sao, các em con có được học hành gì không? Chị Dục và các cháu sống thế nào, chắc độ này mẹ già lắm rồi. Còn con, sức khỏe vẫn bình thường, công tác học tập chiến đấu tốt, mẹ đừng lo lắng gì về con.

Thôi mẹ nhé, nhân tiện có đồng chí cùng đơn vị ra Bắc công tác, con vội viết vài dòng gửi chung thư với Khánh. Khánh sẽ viết thư gửi vào cho mẹ vì đồng chí ấy ra Hà Nội luôn. Con viết vội quá, mẹ thông cảm cho con.

Con yêu của mẹ: Xuân Sanh”.

Ngoài lá thư gửi mẹ, trong lá thư số 2 dưới đây, nếu đọc đoạn đầu, ta sẽ nghĩ tác giả có tên Xuân Sanh viết cho em gái vì lời văn giản dị, chân tình nhưng đọc đến giữa thư mới hiểu anh viết cho người yêu (hoặc vợ mới cưới).

Thư số 2:

(Bì thư: Xuân Sanh-354 Thanh Khiết. Thân gởi em: Nguyễn Thị Khánh-Trường Thể thao Quốc phòng-Xuân Mai-Hà Tây)

“20-9-1967

Chiến trường miền Nam

Khánh em thân yêu !

Nhân tiện có đồng chí cùng đơn vị ra Bắc công tác, anh tranh thủ viết vài dòng gửi về thăm em.

Anh xa em đã bao nhiêu ngày rồi nhỉ? Kể cũng khá lâu rồi, anh viết cho em thư này là lá thứ 3, không biết em có nhận được không?

Thế nào, độ này em có khỏe không, công tác ra sao, hiện đang ở trường làm huấn luyện viên hay đã ra trường?... Bất kỳ công tác nào cũng cố gắng phát huy tính tiền phong của mình trong mọi lĩnh vực, đừng để người ta chê trách... Hơn nữa mình đang có một người anh đang công tác ở chiến trường miền Nam, phải làm sao để xứng đáng với anh chứ!

Tuy anh ở xa nhưng anh vẫn biết được các sinh hoạt của em, anh nói thế không phải để “dọa” em đâu bởi có đồng chí Anh ở gần em và cung cấp tình hình cho anh. Nói chung những tình hình ở miền Bắc anh đã nắm được, em cứ yên chí.

Còn sức khỏe của anh thì vẫn bình thường, em đừng lo cho anh, anh vẫn mạnh khỏe, công tác và chiến đấu tốt. Ngày thống nhất anh sẽ trở về với em, nếu em không đợi được đến ngày ấy thì anh cũng không trách đâu. Em cứ suy nghĩ và hành động theo đúng suy nghĩ của em. Anh rất thông cảm hoàn cảnh và cuộc sống của em.

Khánh em thân yêu! Giờ này em đang làm gì, nhận thư anh vào lúc đang luyện tập, lúc lên lớp hay đang nghỉ trưa? Giờ này em có nghĩ đến anh không? Anh đang sống giữa chiến trường miền Nam, xung quanh là quân giặc, loài mặt người dạ thú đang ngày đêm tìm cách sát hại dân lành. Nhưng chẳng bao lâu nữa ngày chiến thắng, ngày sum họp sẽ đến với chúng ta.

Thôi chào em - người vợ mới của anh. Hôn em!

Anh Sanh”.

Trong lá thư số 3, ta đọc được ở người viết và người nhận thư một tình cảm chú cháu ruột thịt khá xúc động. Trong thư, người chiến sĩ Quân Giải phóng cũng chỉ tiết lộ sơ qua với người thân của mình rằng nhiệm vụ của anh đang rất nguy hiểm.

Thư số 3:

(Bì thư: Võ Hiệp - Cửu Long, miền Nam

Người nhận: Đào Văn Xuyến

Thôn Đồng Tỉnh, xã Thái Dương, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

“Thương chú.

Đã lâu lắm cháu không thư được cho chú, và cũng không biết chú còn ở nhà hay đi đâu. Đầu tiên khi viết lá thư này cháu không quên hỏi thăm sức khỏe của chú cùng toàn thể gia đình.

Từ nơi khói lửa của miền Nam, nơi vùng kiểm soát của địch, cháu ngồi viết thư cho chú với nỗi niềm nhớ gia đình, nhớ chú thím cùng các em. Mỗi khi chiều xuống, đứng bên bờ sông Thu Bồn nhìn dòng nước chảy xuôi mà cháu thêm nhớ cảnh quê hương. Gửi thư đi mà lòng cháu muốn bay theo lá thư này về với chú, ôm lấy chú và khóc...

Chú ơi, khi viết thư này nước mắt cháu cứ chảy, vì sao chú cháu mình lại xa nhau, vì sao chim kia vỡ tổ, vợ xa chồng, con xa mẹ... Cháu tưởng rằng là đứa con út của mẹ thì bản thân cháu sẽ được ấp ủ bằng tình mẫu tử, tưởng rằng cháu sẽ phụng dưỡng mẹ già cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, nhưng vì quân giặc gây ra bạo tàn nên cháu phải lên đường. Công việc của cháu là tìm cách tiêu diệt những tên ác ôn, những tên Mỹ-ngụy mà tội ác đang cao ngất...

Hàng ngày trên đất lửa miền Nam, cháu mong ngóng từng giờ được trở về thăm lại quê hương, được cùng chú tâm sự. Cháu còn nhớ mãi buổi tối hôm nào cháu cùng chú tâm sự. Hôm ấy, cháu ăn cùng chú bữa cơm liên hoan, tuy bình thường nhưng ấm cúng lạ bởi tình cảm yêu thương trìu mến của gia đình.

Từ nơi xa xôi, cháu hình dung lại tất cả những hình ảnh của quê hương, nơi chôn rau cắt rốn thời thơ ấu. Biết bao nỗi nhớ niềm thương trào dâng trong tâm trí cháu. Mỗi khi chiều xuống, đứng tâm sự cùng liễu rủ ven sông, dòng Thu Bồn nước gương trong lạ, những chiếc thuyền nan xuôi ngược nối đuôi nhau chạy, nghe vọng tiếng ai hò của cô gái Quảng Nam, lại càng giống như hình ảnh của những buổi kéo lưới trên sông của cháu ngày còn ở nhà. Cháu mong ngày thống nhất sẽ tới để gia đình mau đoàn tụ.

Hiện nay sức khỏe cháu vẫn bình thường, còn công việc của cháu thì không nói ra được chú ạ bởi nếu thư này lọt ra ngoài thì tính mạng cháu sẽ bị ảnh hưởng. Bọn ác ôn, cảnh sát có thể lùng bắt cháu bất cứ lúc nào. Chú chỉ biết rằng công việc của cháu là rất nguy hiểm.

Thôi chú nhé, thời gian không còn nữa, cháu viết vội mấy dòng thư này báo tin cho chú rõ. Cuối thư chúc chú luôn mạnh khỏe, chú cứ chuẩn bị quà và lo dạm hộ cháu cô gái miền Bắc nhé!

Cháu của chú: Ngọc Thanh”.

Cả 3 bức thư trên đây đều được lính Mỹ lấy ra từ thi thể của một chiến sĩ miền Bắc đã hy sinh trong khoảng thời gian 1967-1968 tại một địa phương ở phía bắc thành phố Đà Nẵng. Không rõ tác giả của những bức thư trên đang còn sống hay đã hy sinh? Nếu may mắn còn sống sau chiến tranh thì hiện các anh đang làm gì, ở đâu? Người thân của các anh có ai còn, ai mất?...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn