Những lá thư viết vội từ chiến trường
Trong số các hiện vật được coi là "nhân chứng sống" trong bảo tàng có những bức thư do các liệt sĩ viết vội trên đường hành quân đã để lại ấn tượng mạnh mẽ cho người xem. Đây được coi nhưng mảnh ghép ký ức của thế hệ thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những chàng trai, cô gái đang độ tuổi đôi mươi, tạm gác lại ước mơ, xếp bút nghiên sẵn sàng lên đường nhập ngũ, hiến dâng tuổi thanh xuân để đất nước “nở hoa độc lập, kết trái tự do”.

Trong số các hiện vật được coi là "nhân chứng sống" trong bảo tàng có những bức thư do các liệt sĩ viết vội trên đường hành quân đã để lại ấn tượng mạnh mẽ cho người xem. Đây được coi nhưng mảnh ghép ký ức của thế hệ thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những chàng trai, cô gái đang độ tuổi đôi mươi, tạm gác lại ước mơ, xếp bút nghiên sẵn sàng lên đường nhập ngũ, hiến dâng tuổi thanh xuân để đất nước “nở hoa độc lập, kết trái tự do”.
Gần 60 năm trôi qua, bức thư của liệt sĩ Nghiêm Bắc Việt, một chàng trai đất Hà Thành viết gửi về cho mẹ và gia đình ở phương xa vẫn còn lắng đọng nguyên cảm xúc. Bức thư được liệt sĩ viết trên đường hành quân cùng đồng đội qua tỉnh Savannakhet ở nước bạn Lào ngày 15/12/1967. Trong thư liệt sĩ Nghiêm Bắc Việt tâm sự cùng cha mẹ: “Từ khi lên đường đi chiến đấu đến nay đã được 55 ngày rồi. 55 ngày qua là bao nhiêu gian khổ, bao nhiêu sự gay go ác liệt về đường đi, về đèo dốc, về máu lửa đến với con nhưng con đã vượt qua. Quãng đường con đi đã được 3/5 đường rồi và hôm nay con nghỉ 1 ngày ở tỉnh Savanakhet cuối của miền trung Lào. Tết này con có triển vọng ở Campuchia và cũng ăn cái Tết đầu tiên xa gia đình, xa Tổ quốc và đó cũng là cái tết đầu tiên đời lính…”. Còn với các em, anh cũng nhắn nhủ đầy tình yêu thương: “Anh lúc này thương nhớ các em lắm và nhớ vô cùng nhưng không làm sao mà nhìn thấy mặt các em nữa, nên các em có nhớ anh thì cứ thương yêu lẫn nhau, thường giúp đỡ thầy mẹ là được rồi. Anh hiện nay sống trên đất Lào nên có nhiều chuyện kể lắm nhưng hẹn các em ngày thống nhất…”.
Chị Nguyễn Thị Trúc, hướng dẫn viên tại bảo tàng chia sẻ, đây là lá thư được Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Tiểu (phường Ngọc Hà, thành phố Hà Nội) cẩn thận cất giữ bao năm tháng để luôn nhớ về người con trai Nghiêm Bắc Việt đã anh dũng hy sinh. Mẹ có hai người con trai là liệt sĩ. Gia đình đã hiến tặng hiện vật này để trưng bày tại bảo tàng cùng với những bức thư cảm động của nhiều liệt sĩ viết trên khắp nẻo đường hành quân giữa mưa bom, bão đạn.
Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mai (xã Xuân Thọ, tỉnh Đắk Lắk) có chồng và hai người con hy sinh, trong đó có nữ liệt sĩ Nguyễn Thanh Tịnh. Trong bức thư gửi về cho mẹ và chị gái ở nhà vào tháng 11/1972, liệt sĩ Tịnh chia sẻ về nỗi buồn khi chứng kiến 5 đồng đội vừa mới hy sinh dưới làn đạn của kẻ thù, thổi bùng lên lòng căm phẫn quyết tâm đánh giặc ở người nữ chiến sĩ nơi đầu trận tuyến. Liệt sĩ Nguyễn Thanh Tịnh viết trong thư: “Càng buồn khổ, em càng căm thù Mỹ càng sâu sắc và nó đã tạo cho em thêm sức mạnh để công tác càng chăm lo. Em chỉ mong sớm được trả món nợ này cho gia đình và bao nhiêu đồng chí khác. Giặc Mỹ cố tình kéo dài chiến tranh, hòng thực hiện cho bằng được (Việt Nam hóa) thì ta càng nhớ, nhớ thật rõ di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, ta càng phải nỗ lực hơn nữa thực hiện lời dạy của Người. Chị ạ! Càng gian nan, khổ cực bấy nhiêu thì ngày thắng lợi càng vẻ vang bấy nhiêu”.
Giữa lúc kháng chiến ác liệt, những cánh thư là cách kết nối thông tin duy nhất nhất giữa người lính ở tiền tuyến với gia đình nơi hậu phương, trong đó có cả những lá thư của người con tập kết ra Bắc gửi về cho mẹ và gia đình ở miền Nam trong vùng địch tạm chiếm. Các cánh thư đều thể hiện rõ khát vọng cháy bỏng và một niềm tin son sắt về một ngày không xa nước nhà sẽ thống nhất, những người con sẽ trở về bên vòng tay của mẹ hiền.
Tại bảo tàng trong lòng Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng đang lưu giữ một bức thư cùng với chiếc ống tre và hũ sành được Mẹ Việt Nam anh hùng Trình Thị Quy (thành phố Đà Nẵng) dùng để chôn giấu bức thư của con dưới lòng đất, không để địch phát hiện. Bức thư do người con trai của mẹ Quy viết, khi ông đang tập kết ở ngoài Bắc gửi vào miền Nam cho mẹ năm 1959 với nỗi nhớ gia đình và quê hương da diết, mong muốn ngày đất nước toàn thắng, Bắc Nam sum họp một nhà.



