Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bức thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng
Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bức thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc, là lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, Người còn là nhà văn hóa kiệt xuất. Người đã sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và bản thân Người cũng là một nhà báo lỗi lạc. Ngay từ những năm tháng đầu tiên hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã luôn coi báo chí và những người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Không chỉ sáng lập và tham gia sáng lập nhiều tờ báo, từ những kinh nghiệm cầm bút của chính mình, Người còn rất quan tâm đến việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm báo của Đảng.
Năm 1949, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn ác liệt, trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn đủ mọi bề của Nhà nước dân chủ nhân dân mới thành lập, nhận thấy vai trò quan trọng của đội ngũ nhà báo cách mạng với phương châm “chiến đấu với quân thù bằng ngòi bút và hướng dẫn dư luận quốc dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Tổng bộ Việt Minh mở trường dạy làm báo và coi đó là một trong những việc cấp bách phải làm. Thực hiện chỉ thị của Người, ngày 04/4/1949, tại xóm Bờ Rạ (nay thuộc xã Tân Thái), huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, lễ khai giảng khóa học đầu tiên của Trường Dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức với 43 học viên đến từ các báo Trung ương, quân đội, các ngành, đoàn thể liên khu, ngành thông tin. Tên của Trường do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt theo tên cụ Huỳnh Thúc Kháng – một nhà lão thành ái quốc và đồng thời cũng là một nhà báo lâu năm, có danh tiếng, người đã sáng lập ra tờ báo Tiếng Dân với câu phi lộ nổi tiếng: “Dù không nói được những điều muốn nói thì cũng không nói những điều người ta buộc phải nói”(1). Đây cũng là cơ sở đào tạo báo chí đầu tiên của báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là cơ sở đào tạo duy nhất trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Do hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến, Trường Dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng chỉ tổ chức được duy nhất một khóa học từ ngày 04/4/1949 đến ngày 06/7/1949. 29 giảng viên tham gia giảng dạy đều là những đồng chí lãnh đạo giàu kinh nghiệm chính trị, phong phú về lý luận và thực tiễn như: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Lê Quang Đạo… cùng nhiều nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ có tên tuổi như: Tố Hữu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Nam Cao, Thế Lữ, Nguyễn Tuân…, với các bài giảng theo từng chuyên đề như: xã luận, viết tin chiến sự trên báo chí, lên bài trên trang báo…
Đặc biệt quan tâm đến Trường, nhân ngày khai giảng lớp học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên cán bộ và học viên. Những lời dạy ân cần và quý báu của Người về công tác báo chí trong bức thư gửi Lớp học đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc và thực sự trở thành kim chỉ nam cho những lớp cán bộ học làm báo lúc bấy giờ và cả những thế hệ làm báo sau này. Người căn dặn: “Lớp này là lớp học viết báo đầu tiên, tôi mong các chú và các cô, thi đua nhau học và hành cho xứng đáng là những người tiên phong trên mặt trận báo chí. Báo chí cũng phải thực hiện khẩu hiệu: Tất cả để chiến thắng!”(2).
Bức thư tuy ngắn gọn, nhưng bằng những kinh nghiệm quý giá về nghề báo và kỹ năng làm báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập và đưa ra những lời chỉ dạy quý báu về ba nội dung: Thứ nhất, mở đầu bức thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nhiệm vụ, mục đích, tôn chỉ, đối tượng, nội dung của báo chí. Người viết: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung. Mục đích là kháng chiến kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc”(3).
Để giúp cho cán bộ thấm nhuần về các quan điểm của công tác báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nêu lên 3 câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Và viết như thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”(4). Người nhấn mạnh: “Bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh”(5). Cho nên, điều đầu tiên mà bất cứ người cầm bút nào trên mặt trận báo chí cách mạng cũng phải hiểu rõ đó là mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Bắn thì phải có bia, phải có mục tiêu, nghĩa là ngòi bút phải gắn với đối tượng. Chính vì vậy, trong thư gửi Lớp học làm báo Huỳnh Thúc Kháng, Người cũng nêu rõ: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng.
Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng thì không xứng đáng là một tờ báo”(6). Người tâm niệm, trước khi viết cái gì phải tự đặt câu hỏi: “Vì ai mà mình viết?”. Người đã trả lời rõ ràng và dứt khoát: “Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh. Mục đích viết làm gì? Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”(7).
Sau này, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Tất cả những nhiệm vụ cách mạng đều là nhiệm vụ của báo chí, nhiệm vụ ấy bao trùm toàn bộ cuộc cách mạng, phục vụ mọi mặt đời sống xã hội, kinh tế, an ninh – quốc phòng, quan hệ quốc tế. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối tượng phản ánh và đối tượng phục vụ chủ yếu của báo chí là nhân dân. Đây chính là một quan điểm cơ bản, một trong những đặc tính nổi bật của báo chí cách mạng.
Vì báo chí cách mạng là thể hiện và phản ánh những nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của quần chúng nhân dân. Nó là công cụ vững bền nhất để Đảng liên hệ mật thiết với quần chúng và là phương tiện quan trọng nhất để Đảng vừa lãnh đạo vừa học tập quần chúng. Chỉ khi nào nắm vững tính chất quần chúng của công tác báo chí, hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, cố gắng tìm hiểu một cách cụ thể đời sống của quần chúng nhân dân thì những cán bộ làm báo mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Khi đã xác định rõ đối tượng chủ yếu của nền báo chí cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt vấn đề về cách viết thế nào cho thật giản dị, chân thực để nhân dân dễ hiểu nhất. Trong thư, Người viết: “Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát”(8). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm, không cho phép xem lâu. Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy. Đồng thời, Người nhấn mạnh, phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng; chớ ham dùng chữ, những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng, những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta, bất đắc dĩ mới phải dùng chữ, làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Viết phải thiết thực, kịp thời, “nói có sách, mách có chứng”, tức là nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào?.
Tiếp đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm của báo chí cách mạng. Đó là: “Về mặt tuyên truyền thì không kịp thời và chính trị suông quá nhiều. Không biết giữ bí mật. Đôi khi đăng tin vịt. Hay dùng chữ Tàu quá, và nhiều khi dùng không đúng. Hoặc là in nhem nhuốc, luộm thuộm, hoặc là vì “mĩ thuật” mà cắt một bài ra hai ba đoạn, khó đọc. Tin tức chậm. Tin quan trọng thì bài ngắn và in chữ nhỏ, bài không quan trọng thì viết dài và in chữ to. Tờ báo không vui vẻ”(9).
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng một khuyết điểm chung và là khuyết điểm không chỉ của riêng cán bộ viết báo đó là “dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng”(10). Vì thế, Người phê bình chung các cán bộ, đảng viên về cái tệ dùng quá nhiều chữ nước ngoài: “cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái lại, báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị, v.v.. thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được. Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại “ca vũ”. Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm”(11). Người cũng không quên nhắc nhở: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỉ lại hay sao?”(12). Trong những năm bôn ba ở nước ngoài, làm báo và viết báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tinh thông nhiều tiếng nước ngoài, Người cũng biết tiếp thu những cái hay, cái đẹp của các tiếng đó, nhưng Người chỉ dùng khi thật cần thiết. Người khuyên các cán bộ báo chí cách mạng: nên dựa vào tiếng Việt để phát triển nó, làm cho nó ngày càng giàu thêm, và phát huy tính trong sáng của nó, phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.
Cuối cùng, trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ 4 yêu cầu của Người trong cách viết bài để nhằm cho đúng mục đích, đúng đối tượng như sau: “1. Gần gũi với dân chúng, cứ ngồi phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực. 2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người. 3. Khi viết xong phải tự mình xem lại ba, bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận; tốt hơn nữa, là nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào chữ nào không hiểu, thì sửa lại cho dễ hiểu. 4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ”(13).
Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý trước tiên đề tài cho người cầm bút là “những điều mắt thấy, tai nghe”. Nghĩa là viết báo trước tiên phải đúng sự thật, bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Không nên viết những bài chung chung, rập khuôn, rỗng tuếch. Muốn vậy, cán bộ làm báo phải đi sâu, đi sát, phải thâm nhập vào đời sống của quần chúng nhân dân, từ đó mới có tư liệu để viết bài. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem”(14). Người nhận xét về những bài viết trên các báo: “Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thời giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy. Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài”(15). Người cũng nói thẳng: “Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội, v.v.. đều dùng chữ nhiều lắm. Tóm lại, chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa”(16). Tới Đại hội lần thứ ba Hội Nhà báo Việt Nam năm 1962, Người đến dự và vẫn phê bình các báo thường viết “quá dài, “dây cà ra dây muống”, không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng”(17).
Có thể thấy rằng, mặc dù đã hơn 75 năm trôi qua, nhưng những lời chỉ dạy ân cần và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kỹ năng làm báo trong bức thư gửi Lớp học làm báo Huỳnh Thúc Kháng năm 1949 vẫn vẹn nguyên giá trị đối với nghề báo, người làm báo hôm nay. Năm 2024, thiết thực chào mừng kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Trường Dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng (4/1949 – 4-2024), Hội Nhà báo Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp xây dựng hồ sơ, tiến hành tu bổ, tôn tạo và khánh thành Di tích trưng bày “Trường Dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng” tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, góp phần tiếp tục tôn vinh và khẳng định những di sản báo chí đồ sộ, và thực hiện những lời chỉ dạy ân cần, sâu sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho các thế hệ nhà báo hôm nay./.



