NHỮNG MẢNH GHÉP THANH XUÂN BỊ ĐÁNH RƠI
Dưới ánh hoàng hôn, hình bóng người lính trở nên thật nhỏ bé trước sự bao la của chiến trường. Họ gánh trên vai không chỉ là ba lô, súng đạn, mà là cả một trọng trách lớn lao: giữ gìn sự bình yên cho những người ở lại. Đằng sau là mẹ già, là niềm hy vọng của cả một dân tộc. Đằng trước là sự bình yên, độc lập của Tổ quốc đang bị bọn cướp nước nắm giữ. Họ là những người đã chọn bước vào nơi nguy hiểm nhất, không phải vì họ không sợ chết, mà vì họ còn sợ sự mất mát, sợ cảnh quê hương bị giày xéo hơ
NHỮNG MẢNH GHÉP THANH XUÂN BỊ ĐÁNH RƠI
Dưới ánh hoàng hôn, hình bóng người lính trở nên thật nhỏ bé trước sự bao la của chiến trường. Họ gánh trên vai không chỉ là ba lô, súng đạn, mà là cả một trọng trách lớn lao: giữ gìn sự bình yên cho những người ở lại. Đằng sau là mẹ già, là niềm hy vọng của cả một dân tộc. Đằng trước là sự bình yên, độc lập của Tổ quốc đang bị bọn cướp nước nắm giữ. Họ là những người đã chọn bước vào nơi nguy hiểm nhất, không phải vì họ không sợ chết, mà vì họ còn sợ sự mất mát, sợ cảnh quê hương bị giày xéo hơn. Họ bỏ lại tuổi xuân còn dang dở, bỏ lại tất cả những ước mơ của chính bản thân mình để thực hiện mong ước của toàn dân tộc Việt Nam: Giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Vào những năm tháng cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đang diễn ra ác liệt ở miền Nam Việt Nam, ngoài nghĩa vụ là hậu phương vững chắc, quân và dân miền Bắc Việt Nam còn thực hiện một nhiệm vụ cao cả, đó chính là giúp đỡ và hỗ trợ Lào đánh Mỹ.
Năm 1971, nhiều tiểu đội quân tình nguyện của Việt Nam từ từ tiến vào địa phận nước Lào. Vào cái thời kháng chiến đang diễn ra ác liệt ấy, điện không có, đèn lại càng không, lại phải hành quân vào lúc ông mặt trời đã xuống núi, quân ta phải nối đuôi, đi sát vào nhau để tránh bị lạc. Những người lính lúc bấy giờ toàn thanh niên mới mười tám đôi mươi, họ còn chưa kịp nếm trọn vị ngọt của cuộc đời đã phải gánh lên mình trọng trách lớn lao của non sông. Không một ai trong tiểu đội biết đường đi cả, chỉ có thể đi theo trinh sát ở phía trước. Đường ta đi thì nhỏ, rừng nước bạn thì to. Hành quân không chỉ là đi mà là ẩn mình, là cuộc đấu trí căng thẳng giữa ý chí của người lính và tai mắt của kẻ thù. Vào khoảnh khắc “ngàn cân treo sợi tóc“, khi mà những người lính đang đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, họ không thể làm gì khác ngoài nín thở và cầu mong bình an. Đường hành quân sang nước Lào toàn là đường rừng, dốc, gập ghềnh. Những cơn mưa rừng như thác đổ khiến cho việc di chuyển trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, căn bệnh sốt rét quái ác hành hạ cơ thể người lính bằng những cơn lạnh buốt rồi nóng chảy, đẩy người lính vào trạng thái mê man. Những con quái vật vô hình đó vắt kiệt sức của quân ta. Giữa suy kiệt về cả thể chất và tinh thần, cái chết luôn gần kề sát bên, ý chí sắt đá và tinh thần đồng đội trở thành nguồn sức mạnh to lớn giúp họ vượt qua những gian khổ tưởng chừng không thể chịu đựng nổi. Biến đau đớn và bệnh tật thành động lực để tiếp tục gánh vác sứ mệnh thiêng liêng của Tổ quốc.
Lúc bấy giờ, mỗi người lính khi đi hành quân phải tự mang quân trang quân dụng đi theo. Mỗi người đều mang vác 20-30kg quân trang, vũ khí được đựng trong một chiếc balo đeo sau lưng. Càng đi xa, sức khoẻ của bộ đội càng giảm sút bởi ở nơi mà mạng sống có thể bị cướp đi bất cứ lúc nào này, việc ăn đủ bữa cũng trở thành một thử thách khó nhằn. Huống chi lương thực cũng chỉ có lương khô. Cũng may có chiếc bếp Hoàng Cầm – một món “bảo bối” mà bộ đội ta sáng tạo ra từ trước, những bữa ăn của các chiến sĩ đã được cải thiện đáng kể. Trong khoảng thời gian đầy khó khăn và gian khổ ấy, tình đồng chí, đồng đội trong mỗi người lính vẫn luôn toả ra một tia sáng ấm áp, xoa dịu những trái tim đang bị dày vò bởi nỗi nhớ nhung người thân và quê nhà. Họ gắn bó với nhau, cùng nhau sẻ chia những vất vả, cùng nhau tâm sự, dãi bày nỗi lòng. Bộ đội ta hành quân ròng rã từ miền Bắc Việt Nam đến Lào trong hơn 1 tháng. Khi địch tiến lại gần, mỗi chiến sĩ của quân ta ngay lập tức trở thành một phần của khu rừng, họ vùi mình vào trong đất, biến mình thành những khúc gỗ vô tri. Họ nằm đó không phải đợi thời gian trôi qua mà là chờ đợi thần chết bước qua mình. Cứ như vậy, địch đến thì ta núp, địch đi thì ta đi, bộ đội ta từ từ tiến vào chiến trường Lào. Không ai biết thứ đang chờ đợi ở phía trước là cái gì, sẽ là màn đêm u tối hay sẽ là ánh nắng vàng rực rỡ của độc lập tự do. Họ chỉ có thể ôm chặt khẩu súng, giữ vững niềm tin và mạnh mẽ tiến về phía trước.
Vào những năm 1973-1975 là trận chiến diễn ra ác liệt nhất. Mỹ với toàn những vũ khí và trang thiết bị hiện đại từng bước chèn ép, ra sức tiêu diệt quân ta. Cứ mỗi khi Mỹ thả bom là quân ta lại đổ máu, đổ máu rất nhiều. Có khi vừa giây trước còn cổ vũ nhau cố lên, giây sau người kia đã chẳng còn. Đau buồn lắm, giằng xé lắm nhưng vì độc lập và tự do, những “người anh hùng” ấy không cho phép mình khóc. Xác đồng đội ngay bên cạnh mà chẳng làm gì được ngoài cầm chắc súng và tiếp tục tiến lên. Thậm chí còn nhờ vào xác đồng đội để né những viên đạn tử thần của kẻ thù. May sao, bên ta có tình báo chuẩn, thông báo kịp thời cho ta những đường đi nước bước của địch nên về sau quân ta đã giảm bớt được thiệt hại.
Có những hôm, bộ đội ta đang trên đường hành quân vào tối muộn, quân địch bất ngờ tấn công. Trời lúc đó đã tối om không còn nhìn thấy bất kì thứ gì nữa. Bộ đội ta chỉ có thể dựa vào tia lửa bắn ra từ súng của kẻ thù để xác định phương hướng mà bắn trả, không thì chỉ bắn vu vơ, vừa bắn vừa lui. Lúc ấy, người lính chẳng còn nghĩ gì đến tính mạng của mình nữa, chỉ biết rằng nếu mình đầu hàng, quân ta sẽ thua cuộc. Một người vì mọi người, cứ thế mà dũng cảm bắn trả, đấu súng với quân địch giữa màn đêm u tối và sự hưu quạnh của núi rừng hoang sơ.
Và rồi, bao công sức của họ cũng được đáp trả. Khi nghe tin được về lại với quê hương, các chiến sĩ vui mừng biết nhường nào. Họ ôm nhau, ăn mừng, những ca khúc chiến thắng ngân vang trên nước bạn, phá tan cái không khí toàn mùi thuốc súng, đập tan sự u uất, chết chóc của rừng già. Cầu vồng xuất hiện sau mưa. Hoà bình được trả lại cho toàn thể dân tộc Việt Nam và Lào. Những “người anh hùng” quả cảm, kiên cường trở lại quê nhà. Đáng lẽ ngày trở về phải là niềm vui và đầy ắp tiếng cười rộn rã, nhưng trong lòng mỗi chiến sĩ may mắn sống sót quay trở về đều có một nỗi buồn khó nói nên lời, bởi cả một tiểu đội quay gót ra đi ngày ấy, nay lại chỉ có vài người quay về. Một phần của tiểu đội đã mãi mãi nằm lại nơi “chiến trường sinh tử”, không thể trở về đoàn tụ được nữa.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những hy sinh của những người lính vẫn còn đó, âm thầm nhắc nhở chũng ta về cái giá của hoà bình. Họ đi qua bom đạn, vượt qua cái ranh giới mong manh của sự sống và cái chết để chúng ta được lớn lên dưới bầu trời bình yên. “Ông cha ta cầm súng để ta được cầm bút”, thế hệ trẻ ngày hôm nay càng phải trân trọng hơn từng trang sách, từng bài học. Cây bút mà chúng ta cầm ngày hôm nay sẽ là thứ quý giá nhất để viết tiếp những ước mơ dang dở mà những người lính đã gửi lại về sau.
Nhóm tác giả: Tạ Vũ Diệu Anh, Phạm Tuyết Nhi, Nguyễn Hà Linh, Lò Tuấn Hưng, Trương Đăng Hoàng – Chi đoàn 11A5, trường THPT Mù Cang Chải.



