Bài viết

Những mốc son chói lọi của bản hoà ca dân tộc trong những tháng ngày cơ cực ấy

Ninh Bình12/05/2026Phạm Văn Hiệp (Đoàn xã Khánh Trung)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử dân tộc ta đã từng đi qua những tháng năm dầm dề mưa bom bão đạn, nơi máu và hoa cùng đan xen dệt nên những trang sử thi hào hùng. Giải phóng miền Nam (30/4/1975) là một trong những mốc son chói lọi của bản hoà ca dân tộc trong những tháng ngày cơ cực ấy. Những nhân chứng sống của thời kỳ oanh liệt này với thế hệ sau-thế hệ sống trong hòa bình,chính là một "cầu nối lịch sử” để mỗi chúng ta được tiếp nhận quá khứ một cách sống động,gần gũi hơn.Em cảm thấy mình may mắn vì được bước tới "cây cầu" ấy một lần,khi tham gia vào vị trí khán giả chương trình "Ký ức vui vẻ" và được nghe chia sẻ của Nhà báo-Cựu phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính.

Mở đầu cuộc trò chuyện, nhà báo Đoàn Công Tính không giấu được sự xúc động khi nhớ về những năm tháng thanh xuân gắn liền với khói lửa. Với ông, việc được có mặt tại những điểm nóng nhất của cuộc chiến không chỉ là nhiệm vụ mà còn là một cái duyên lớn trong đời.

Ông tự hào chia sẻ về hành trình của mình: “Tôi có một cái vinh dự là trong thời kỳ chiến tranh tôi đã được dự khá nhiều cái trận chiến có thể nói là khốc liệt. Ví dụ tôi có bốn lần đi vào chiến trường Quảng Trị năm 70, 71 và năm 72 thì hai lần; một lần giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và một lần là giữ cái Thành cổ Quảng Trị”. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, ông tìm thấy ý nghĩa cuộc đời qua những gương mặt đồng đội: “Tôi có thể nói rằng tôi là con người hạnh phúc được đi bằng ấy cái điểm và được tiếp xúc với những con người mà tôi nghĩ rằng họ là những người xứng đáng là những anh hùng”.Ông nhớ lại và ngậm ngùi chia sẻ rằng trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng Quảng Trị và giữ Thành cổ Quảng Trị,đã có 135 nghệ sĩ nhiếp ảnh hy sinh và con số này còn lớn hơn nếu tính cả các nghệ sĩ điện ảnh. Từ đây có thể thấy,kho tàng phim ảnh làm minh chứng lịch sử như ngày hôm nay ta thấy chính là đổi bằng sự hy sinh,công lao của những nhà báo,phóng viên thời chiến đã lao mình vào nơi mà họ dù biết dầy rẫy nguy hiểm,đó thật sự là những tư liệu vô giá đối với cả hiện tại lúc bấy giờ và tương lai sau này.

Rời xa những khái quát chung về cuộc chiến, em và các khán giả khác được ông dẫn dắt sâu vào trọng tâm của sự khốc liệt – đó là 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ. Tại đây, ông đã chứng kiến ý chí sắt đá của những chàng trai mười tám đôi mươi, những người sẵn sàng viết huyết thư để thề tử thủ.

Ông bồi hồi nhớ lại: “Mỗi người lính đều viết khẩu hiệu tự nguyện, tự giác, không ai nói cả. Người ta viết những cái khẩu hiệu kể cả trích máu xong gài lên mũ: 'Chúng tôi kiên quyết bảo vệ thị xã Quảng Trị để chống lại cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ'”. Nói về mức độ tàn khốc, ông dùng những từ ngữ mạnh mẽ nhất: “Cứ mỗi một cái chốt như thế này ấy, có nơi là phải thay đến sáu lần. Có thể chết, có thể bị thương nhưng mà phải đưa ra hết rồi lại đưa lớp khác vào, cho nên đây là "cối xay thịt".Đặc biệt, ông kể về sự nhầm lẫn đầy nhân văn đối với chiến sĩ Lê Xuân Trinh – người trong ảnh mà ông từng ngỡ đã hy sinh: “Tôi gọi điện vào tôi hỏi thì anh này còn sống hay chết, lãnh đạo sau này trả lời là cái chốt ấy đã bị thương vong hết... mình không biết mình tưởng chết rồi”.

Để có được những bức ảnh để đời, người phóng viên chiến trường phải vượt qua những thiếu thốn chồng chất về mặt kỹ thuật. Không có phòng tối hiện đại, mọi công đoạn từ chụp đến tráng phim đều phải thực hiện bằng sự mưu trí và lòng dũng cảm ngay dưới hầm trú ẩn.

Ông kể về chiếc máy ảnh FED cũ kỹ của mình: “Nó nhỏ bé như thế này nhưng nó đã làm được cái việc ghi lại được một số hình ảnh rất là hiếm hoi”. Trong điều kiện chiến tranh, việc tráng phim trở thành một trận chiến khác: “Chúng tôi tráng phim ở trong hầm che đậy rất kín. Pháo sáng nó sáng thế thì phải có anh em ngồi canh. Thế khi mà pháo sáng nó gần thì bảo: 'Ông phóng viên ơi pháo sáng gần đấy!', thế là phải ôm lấy che thế này”. Thậm chí, ông còn phải tự chế đèn màu từ những vật liệu tự nhiên: “Chúng tôi phải nghĩ ra một cái đèn, tức là lấy lá chuối bịt vào cái đèn pin rồi treo thế này cho nó xuống này, tráng một lúc lại soi thế này”.

Khép lại mạch hồi ức, nhà báo Đoàn Công Tính nhắc đến dòng sông Thạch Hãn – nơi ghi dấu sự hy sinh thầm lặng của biết bao người lính. Trong cái không khí bi tráng ấy, chính âm nhạc là liều thuốc chữa lành và tiếp thêm sức mạnh cho họ.

Nhìn lại những chuyến vượt sông đầy nguy hiểm, ông nói: “Bọn địch nó dùng máy bay C-130 và các loại súng từ trên cầu Quảng Trị nó bắn xuống, nó cứ bắn dọc con sông đó không cho ai qua... Có những đêm cả một đơn vị cứ bọc nilon này xong rồi đi qua sông mà bom đạn nó dội coi như là không có cách nào mà ngăn được”. Và giữa những khoảng lặng của tiếng súng, tiếng hát lại vang lên: “Thực ra mà nói là nếu mà đi chiến trường mà không có nghe hát thì chắc không đi được. Có thể nói là món ăn tinh thần hết sức quan trọng ở chiến trường”. Ông gửi gắm lời nhắn nhủ đầy chân tình đến những nghệ sĩ trẻ: “Các em cứ ca hát thật nhiều, ảnh của tôi cứ treo khắp nơi thì tự nhiên tinh thần lại lên”.

Có thể nói, những lời kể của nhà báo Đoàn Công Tính không chỉ là những dòng hồi ức về một thời hoa lửa, mà còn là bản hùng ca về sự dũng cảm và tinh thần lạc quan của con người Việt Nam trong nghịch cảnh. Qua lăng kính của người phóng viên chiến trường, Thành cổ Quảng Trị không chỉ hiện lên với bụi đường, máu và nước mắt của "cối xay thịt" tàn khốc, mà còn sáng rực vẻ đẹp của những nụ cười bất tử và những bức huyết thư đầy khí tiết. Một chiếc máy ảnh cũ, những tờ lá chuối bọc đèn pin tráng phim dưới hầm hay những vần thơ bên dòng Thạch Hãn đã dệt nên một tượng đài bằng hình ảnh, lưu giữ trọn vẹn gương mặt của một thế hệ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

Nhìn vào những bức ảnh vô giá và lắng nghe giọng nói trầm ấm, đầy tự hào của ông, bản thân em không khỏi lặng người vì xúc động. Giữa cuộc sống hòa bình, đủ đầy hôm nay, câu chuyện của ông như một hồi chuông thức tỉnh về giá trị của tự do — một giá trị vốn được đổi bằng tuổi đôi mươi của biết bao người lính đã nằm lại dưới đáy sông hay tan vào gạch vụn Thành cổ.

Chúng ta, thế hệ được kế thừa thành quả của cha ông, xin nghiêng mình kính cẩn và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn. Chính sự dũng cảm "không bao giờ hối hận vì đã xông pha nơi lửa đạn" của các bác, các chú đã dạy cho chúng tôi hiểu rằng: Sống không chỉ là tồn tại, mà là cống hiến và giữ gìn ngọn lửa trân trọng lịch sử. Những thước phim và bức ảnh ấy sẽ mãi là hành trang tinh thần, nhắc nhở mỗi người trẻ phải sống sao cho xứng đáng với những người anh hùng đã hóa thân vào sóng nước và hồn thiêng sông núi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn