NHỮNG MÙA HÈ TỰ LẬP
Câu chuyện là những hồi ức của tác giả về tuổi thơ và những mùa hè tự lập trong một gia đình đông con thời bao cấp. Hai anh em tác giả và anh Đức từ nhỏ đã biết tự kiếm thêm thức ăn, làm việc và kiếm tiền. Hai anh em câu cá rô, bắt trạch, phụ bếp tại Trường Ngoại ngữ, nhận lương hằng tháng; mùa hè còn thu gom phế liệu đem bán đồng nát để có tiền mua quần áo, sách vở và những món đồ mình yêu thích. Qua những công việc nhỏ ấy, tác giả nhớ lại rất nhiều hình ảnh của cuộc sống thời bao cấp: bếp điện dây mayso, than quả bàng, cơm cháy, cá kho, cà chua, xôi buổi sáng, quần áo vải xanh chéo, bút máy, truyện... Câu chuyện cũng đan xen những kỷ niệm nghịch ngợm của anh em: tắm mưa, tháo con búp bê biết bò để tìm hiểu bên trong, ăn vụng cốm canxi của em gái, rồi những mùa hè cùng bạn bè đi lao động tại sân bay Gia Lâm. Đặc biệt, tác giả nhớ về những lần trở lại Bắc Quang, Hà Giang, nơi có ông bà, cụ và những người thân. Những ký ức về núi rừng, suối Cầu Quang, cuộc sống thời kháng chiến, những bữa ăn gia đình và tình cảm của ông bà đã tạo nên một tuổi thơ sâu đậm. Cuối câu chuyện là hình ảnh bà ngoại, với những sinh hoạt hầu đồng mà ngày nhỏ tác giả chưa hiểu. Khi trưởng thành, tác giả nhìn lại và nhận ra đó là một phần của di sản văn hóa tâm linh của người Việt.
CHUYỆN HỌC VÀ HÀNH CỦA TÔI – SỐ 8: NHỮNG MÙA HÈ TỰ LẬP
Cuộc sống lúc ấy yên bình, khá no ấm nhưng vẫn còn đạm bạc. Nhà tôi đông con, khi đó đã có bảy anh chị em, bố mẹ nuôi cả nhà cũng khá vất vả. Gia đình ăn cơm tập thể của trường. Hằng ngày, mẹ lĩnh mấy suất cơm ở nhà bếp đem về cho cả nhà ăn.
Thỉnh thoảng có thịt luộc, tôi thường cho thịt vào đĩa nhôm, đặt lên bếp điện, đổ nước mắm vào chưng cho mặn, thành món thịt rim. Làm như vậy, chỉ cần một ít thịt cũng đủ thức ăn cho cả nhà. Hồi ấy bao cấp, điện nước không phải trả tiền. Nhà ai cũng có cái bếp điện bằng dây mayso. Dây thỉnh thoảng bị đứt, tôi lại phải nối lại. Nghĩ chuyện cũ, hơi kinh, vì dây mayso được đặt hở trên một khuôn bếp bằng đất nung, khi dùng thì nó đỏ lừ lên. Nếu không khéo, đoạn nào nhô lên hơi cao, chạm vào xoong nồi thì điện giật như chơi.
Hai anh em vì thế cũng hay tìm cách cải thiện bữa ăn. Sát khu trường, phía giáp nhà thằng Truyền có một lũy tre ken dày và một con mương khá rộng. Bèo tấm phủ nhiều trên mặt nước, cá rô cũng lắm. Anh Đức và tôi thường xách xô, mang cần ra đó câu.
Chúng tôi câu nhử chứ không câu ngâm. Ngoắc mồi vào lưỡi câu rồi nhấp nhấp trên mặt bèo. Cá rô thấy động, nhảy lên đớp mồi và mắc câu. Anh Đức bao giờ cũng câu được nhiều hơn tôi. Có hôm hai anh em mang về tới hai mươi lăm con cá rô, con nào cũng to, mẫm.
Ở phía khác của trường có một cái ao nhỏ và nông. Mùa khô, nước rút gần hết, chỉ còn trơ lớp bùn. Chúng tôi mang xẻng ra, xắn sâu từng nhát xuống, bắt được những con trạch chấu béo múp.
Mùa hè thời ấy học sinh được nghỉ đúng ba tháng. Hai anh em thường dành tới hai tháng để đi làm, kiếm tiền mua quần áo, sách vở. Không phải bố mẹ bảo, mà do anh em chúng tôi thích làm. Từ khi tôi học lớp 6 đến lớp 7, anh Đức học khoảng lớp 8 đến lớp 9/10, hai anh em thường xin làm phụ bếp ngay tại Trường Ngoại ngữ. Chúng tôi làm theo giờ hành chính như người lớn, hưởng lương hẳn hoi, mỗi người 36 đồng một tháng, gần bằng lương của một người lớn. Cuối tháng, chúng tôi lên phòng tài vụ, ký nhận lương.
Công việc chỉ là việc phụ: nhặt rau, đẩy xe phân phát cơm và thức ăn tới từng bàn. Những việc chính như chế biến, nấu cơm… đã có các cô bác trong nhà bếp làm.
Nhà bếp rất lớn. Bếp lò xây bằng gạch, trên đặt những chiếc chảo gang đường kính có khi tới cả mét. Chỉ hai, ba chảo như thế đã nấu đủ cơm cho cả bếp ăn. Cơm chín được xúc vào những xoong nhôm, sáu người một mâm.
Bếp đun bằng than quả bàng. Đó cũng là một cái tên bây giờ ít ai còn biết. Than đá vụn được trộn với bùn rồi nắm lại thành từng cục có hình gần giống quả bàng. Khi cháy, lửa hừng hực dưới những chiếc chảo gang lớn.
Cơm nấu bằng chảo như thế bao giờ cũng để lại một vầng cơm cháy phủ gần kín đáy. Các bác dùng một cái bàn sản, to gần giống cái xẻng, róc từng mảng cơm cháy ra. Lại thêm một từ cũ mà đến lúc kể tôi mới chợt nhớ ra.
Cơm cháy thơm phức, giòn rụm. Chúng tôi thường ăn không cũng đã thấy ngon lắm. Có hôm các bác lấy nước thịt rưới lên, càng ngon.
Trong bếp có bác Lễ, người miền Nam, kho cá rất ngon. Bác thường lót dưới đáy chảo những khúc mía đã róc vỏ, đập dập, hoặc lá chè tươi, rồi mới xếp cá lên kho. Tôi còn nhớ cái vị cá kho ấy đậm đà thế nào.
Thỉnh thoảng hai anh em lại nhặt cà chua trong bếp ăn sống. Cà chua dùng để nấu thức ăn, rất nhiều, chẳng ai cấm chúng tôi ăn. Hồi ấy, cà chua hình như khác bây giờ — nó chín đỏ, mọng, quả to đều, ruột đặc, ăn có cảm giác như có “cát”, vừa ngọt vừa thơm. Trong trí nhớ của tôi, cà chua thời ấy ngon hơn bây giờ nhiều.
Hè đến, học sinh về nghỉ, những dãy nhà trong trường trống hơ trống hoác. Hai anh em lại lùng vào các phòng tìm những thứ người ta bỏ đi: lon sữa, giấy vụn, giày cũ có đế crếp… Gom được thì đem bán đồng nát.
Tiền kiếm được, phần lớn chúng tôi đưa mẹ để mua quần áo, sách vở. Quần áo thời ấy cũng đơn giản. Quần thường may bằng vải xanh chéo, áo bằng vải phin. Khi có tiền hơn một chút, mẹ mua được vải kaki để may quần, vải pôpơlin để may áo là sang lắm rồi. Còn kaki gabardin thì thuộc loại sang nhất, chúng tôi chưa được mặc.
Anh em tôi cũng giữ lại một ít tiền để mua những thứ mình thích: quả bóng bàn, chiếc bút máy, vài cuốn truyện.
Tiền ăn sáng thì rất ít. Tôi chuyên trị xôi: xôi lạc, xôi đậu đen… Thích nhất là xôi đậu đen ăn với muối vừng. Một bữa sáng chỉ hết năm xu, nhiều thì một hào.
Có tiền trong túi, đôi khi hai anh em còn sang phố cắt tóc, gội đầu. Tôi để ý thấy các hiệu cắt tóc thời ấy hay uốn tóc cho nam giới thành những gợn sóng, còn phụ nữ thì phi-dê, làm cho những mái tóc ngang vai xoăn đều. Người ta dùng máy sấy, cặp điện… tạo nhiệt để ép tóc theo nếp. Khoái tóc quăn, hai anh em lấy đũa hơ trên lửa cho nóng rồi cuốn tóc vào. Không ngờ tóc cũng quăn ra phết.
Nhân chuyện này, lại nhớ tới chuyện nghịch ngợm của mấy anh em. Nhiều khi, mưa rào tầm tã, bảy anh em chúng tôi phóng ra sân tắm mưa, đùa vui vang trời. Cụ nội đứng bên cửa nhà quát: “Vào đi, vô duyên quá!”.
Còn tôi, thấy có con búp bê biết bò, tôi thắc mắc lắm. Rình lúc nhà vắng vẻ, tôi tháo tung ra tìm hiểu. Hóa ra bên trong nó có các bánh xe, các khớp nối và bộ dây cót. Cuốn chặt cót, khi nhả ra, lực cót khiến các bánh xe quay, truyền động lực tới chân tay con búp bê. Hiểu rồi, khoái lắm, nhưng khi lắp lại thì loay hoay mãi mới được, chỉ mỗi tội búp bê hết biết bò. Món đồ chơi hấp dẫn nhất của ba cô em gái thế là hết hoạt động, nhưng các em không trách gì anh.
Trong số ba em gái thì em Diệp yếu hơn cả. Em còi xương, mẹ phải mua lọ cốm canxi cho em ăn. Tôi lại tò mò, xem cốm canxi như thế nào mà chữa được còi xương, mở ra lấy một nhúm ăn thử — nó ngọt, thơm quá, thế là thử thành thật, tôi ăn mất mấy nhúm! Em lại hay bị mụn nhọt, có lần lên mấy nhọt bọc to tướng, tôi phải đèo mẹ và em trên chiếc xe đạp Praha sang tận Bệnh viện Bạch Mai trích nhọt, tắm điện (rọi ánh sáng chữa còi xương).
Lên lớp 8, tôi, Giang và Nguyệt là nhóm bạn khá thân. Mùa hè, ba đứa cùng xin đi lao động ở sân bay Gia Lâm để kiếm tiền. Công việc chủ yếu là dọn dẹp, phát cỏ, thu gom rác trong khu vực sân bay. Lương khoảng 45 đồng một tháng. Chúng tôi làm rất cần mẫn.
Những tháng hè còn lại, có khi tôi lên Bắc Quang, Hà Giang, nơi tôi sinh ra. Ở đó có những người ruột thịt của tôi: cụ nội, cụ ngoại, bà nội, bà ngoại, bà trẻ Nghiêm, cậu mợ Hiếu…
Trở về Bắc Quang, tôi được sống trong không khí gia đình rất ấm áp, trong mầu xanh thăm thẳm của núi rừng, bên dòng suối Cầu Quang trong và mát. Chúng tôi ra suối tắm, ra cầu Quang ngắm trăng, hóng gió. Có hôm, tôi cầm kèn harmonica ra bờ suối thả hồn theo tiếng kèn cùng tiếng suối róc rách… Rồi tôi gác mình lên chạc cây, bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm gia đình thật đầm ấm.
Thời kháng chiến, gia đình bên ngoại tôi ở vùng tự do (vùng do Việt Minh kiểm soát), đìu ríu nhau vượt qua những trận càn của địch, lao động chăm chỉ để có cuộc sống dễ chịu. Những người thân của tôi từng gánh tôi và anh Đức trên đôi quang gánh từ Cây đa Nước Chảy, Tuyên Quang sang Ấm Thượng, Hạ Hòa, Phú Thọ. Nơi đây, cuộc sống tương đối bình yên. Ngoài việc chạy chợ, nhà tôi còn nuôi khá nhiều gà. Thỉnh thoảng bố tôi cùng mấy chú bộ đội về thăm nhà, đem theo súng cacbin. Lúc ấy, các chú cầm súng đi bắn chim, nhiều nhất là chim cu xanh, loại chim có thịt chắc, ngọt và béo. Bao giờ tôi cũng ăn đầu chim, đầu gà — nhà tôi biết tính tôi, dồn hết thức ăn đặc biệt này cho tôi. Có hôm, các chú còn săn được cả lợn rừng, ăn không hết, ướp muối ăn dần. Nhưng có hôm, chú Liên bắn nhầm phải con trâu của dân thả trong rừng, may mà nó chỉ bị thương.
Sau này, nhà chuyển trở lại Tuyên Quang, địch bớt quấy phá, cuộc sống ổn định hơn. Nhà tôi làm bánh dầy, giò chả đem lên chợ Tam Cờ bán. Có hôm, cụ ngoại tôi, trong khi ngồi vét cối cho cậu giã bánh dầy, bị giã phải tay. Tuy bé, nhưng tôi đã thấy vô cùng xót xa trước tai nạn của cụ; nó hằn sâu trong tim tôi tới tận bây giờ.
Làm ăn vất vả như thế, nhưng các cụ, các bà vẫn dành cho chúng tôi những món ăn ngon, chứ không chỉ no. Nào là bánh mì, nhưng lại làm bằng bột nếp, thơm giòn. Nào là những củ mã thầy mát ngọt. Những cốc thạch đen, thạch trắng. Hồi ở Phú Thọ, có hôm anh Đức ăn nhiều xôi nếp làm rượu nếp quá, bị đầy bụng, cả nhà nhao nhác, lo sợ. Bà tôi lấy tỏi rịt vào rốn cho anh, đến sáng mới đỡ chướng bụng. Em Phúc tôi bị một trận ốm, bệnh gì tôi không biết, lên cơn co giật, nghiến răng; các bà và mẹ tôi cuống cuồng cạy răng, cho thuốc Lục Thần Dìn của Trung Quốc vào miệng, rồi cũng khỏi.
Bà ngoại tôi dáng người nhỏ nhắn, da trắng, nhanh nhẹn. Bà có máu đồng bóng. Thỉnh thoảng, tôi thấy bà ngồi xếp bằng tròn, tay cầm bó nhang, múa may, rồi đội khăn đỏ lên đầu, người đảo vòng liên tục. Bà dặn anh em chúng tôi không được mách bố. Khi bố về, tôi nhanh nhảu khoe: “Bố ơi, bà không lên đồng đâu!”. Bố tôi cười hóm hỉnh. Nụ cười cho tôi thấy thế là tôi đã mách bố việc bà ngoại lên đồng rồi!
Hóa ra, hầu bóng là di sản văn hóa tâm linh quý giá của dân tộc, được bảo tồn, nuôi dưỡng trong đời sống của hàng triệu người Việt, mà bà tôi là một đốm lửa nhỏ trong đó.



