Những mùa xuân không quên của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Tâm (2)
Đi suốt cuộc đời mình, trong mỗi nhịp đập trái tim Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Tâm vẫn luôn vang vọng dáng hình Sài Gòn ngày giải phóng, rực rỡ cờ hoa. Những chiến công của bà hôm nay được làm nên từ sự hy sinh của biết bao đồng đội đã ngã xuống trên khắp các chiến trường, ký ức ấy trở thành nỗi nhớ thường trực trong tâm hồn bà. Khi bắt đầu cuộc đời đã thế, thì lúc này điều đó dễ gì đổi thay…
Có những quãng đời tưởng như lặng lẽ. Bà từng được cử đi học văn nghệ tại Trung ương Cục R, rồi về phụ trách đội văn nghệ tỉnh An Giang. Nhưng chiến trường không để bà ở lại lâu với tiếng hát. Tháng 10-1964, Võ Thị Tâm được điều về đơn vị T4 (Biệt động Sài Gòn). Từ đây, bà bước vào những năm tháng hóa thân đầy hiểm nguy, hoạt động ngay sát trung tâm đầu não của địch, sống và chiến đấu bằng bản lĩnh, trí thông minh và sự linh hoạt hiếm có.
Đầu năm 1968, bà được điều động làm trinh sát chiến đấu Trung đoàn 31, Phân khu 2, Quân khu 8 (nay là Quân khu 9), sau đó giữ cương vị Đại đội phó Đại đội trinh sát, trực tiếp tham gia đợt II Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Giữa bom đạn Sài Gòn, nữ trinh sát ấy cùng đơn vị treo ba lá cờ giải phóng, rải hơn 10.000 truyền đơn, bỏ thư cảnh cáo bọn ác ôn, góp phần làm quần chúng nổi dậy, phá trụ sở dân vệ ở Cống Bà Xếp. Bà ba lần cùng đơn vị chiến đấu trên đường phố các quận 5, 6, 10 và 11; vừa liên lạc, trinh sát, vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu. Nhiều lần giáp lá cà với địch, bắn cháy xe tăng, thu vũ khí. Trong những trận ác liệt nhất, bà bị thương nặng ở mắt nhưng vẫn kiên cường bám trụ, chăm sóc thương binh, lo chôn cất liệt sĩ, không rời trận địa khi đồng đội còn ở lại. Chính trong những ngày tháng ấy, đồng đội gọi bà bằng cái tên vừa thân thương vừa nể phục “trực thăng cá lẹp” để nói về sự nhanh nhạy, mưu trí và gan góc của nữ giao liên nội thành.
Ngày 17-6-1968 trở thành ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời Võ Thị Tâm. Trận chiến diễn ra trong thế hoàn toàn không cân sức. Đơn vị chỉ còn lại 12 người, bị địch bao vây dày đặc, chốt chặn mọi ngả đường, có cả xe tăng yểm trợ. Trung đội trưởng Hai Hoàng dù bị thương nặng vẫn bình tĩnh ra lệnh cho bà cải trang làm dân, thoát ra bằng con đường hợp pháp để báo cáo tình hình với cấp trên và mang theo kỷ vật của đồng đội về Bộ Tư lệnh Phân khu II. Những người ở lại quyết chiến đấu đến cùng, thà hy sinh chứ không sa vào tay giặc. Hiểu rõ mệnh lệnh và trách nhiệm của mình, Võ Thị Tâm nén đau thương, quyết tâm vượt vòng vây địch, hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng là đưa kỷ vật của đồng đội trở về đơn vị an toàn.
Từ năm 1969, bà bị địch bắt giam, hết trại giam cầu Băng Ky, qua bót Hàng Keo, rồi đến Chí Hòa, bị đày ra Côn Đảo, sau đó chuyển về Tam Hiệp. Đến ngày 14-4-1975, Võ Thị Tâm được phóng thích khỏi nhà tù. Bà lại tiếp tục tiến về giải phóng Sài Gòn từ hướng Tây, trong đơn vị quân báo Khu Sài Gòn - Gia Định. Hai ngày sau, bà cùng các đồng chí Quận 11 xây dựng chính quyền cách mạng, đảm nhiệm cương vị Bí thư Phường 3, rồi Bí thư Phường 5, Quận 11. Sống trong những ngày tháng sôi động dựng xây chính quyền, bà đã tự tay viết nên những vần thơ mộc mạc mà thấm đẫm tinh thần cách mạng:
… Mấy ngày tiếp quản ở đây
Quân, dân với Đảng dựng lên chính quyền
Chính quyền cách mạng đầu tiên
Kinh phí hoạt động là tiền nhân dân
Lúc này thật rối hậu cần
Lương thực không đủ, độn phần bo bo
Vậy mà dân chẳng có lo
Đất nước độc lập giàu to hơn nhiều.
Người mẹ của những phận đời
Hòa bình lập lại, Võ Thị Tâm vừa tròn ba mươi tuổi. Tham gia cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, bà bị mất một đôi mắt; sáu năm một tháng trong ngục tù cướp đi một phần thân thể và cướp nốt tuổi thanh xuân, để lại những di chứng theo bà suốt cuộc đời.
Sau ngày đất nước yên tiếng súng, trong bà bỗng sống dậy một ước mơ rất đỗi đời thường: Có một mái ấm gia đình. Những lúc rảnh rỗi, nghe ngoài hiên tiếng trẻ thơ nô đùa gọi mẹ, lòng bà chợt se lại thiêng liêng và hạnh phúc đến nao lòng. Nhưng hiện thực thì nghiệt ngã. Là thương binh nặng, mất 81% sức lao động, sức khỏe yếu, không còn khả năng sinh con, kinh tế lại quá nghèo, bà hiểu rõ mình khó có thể mang lại trọn vẹn hạnh phúc cho người khác.
Dẫu vậy, trong sâu thẳm, ước mơ ấy vẫn thôi thúc: Giá như có một mái nhà, có chồng, có con, để khi tuổi già còn được nếm vị ấm êm của gia đình. Bà biết, ở tuổi này, ước mơ ấy đã muộn. Nhưng các mẹ, các chị ở địa phương vẫn động viên: “Muộn mà có còn hơn không”. Những lời ấy khiến bà xao xuyến, vừa ấm áp vừa day dứt, bởi ngoảnh lại thì tuổi xuân đã ở phía sau.


