NHỮNG NĂM CƠM GIỮ ĐƯỜNG TIẾP TẾ
Bà Nguyễn Thị Huệ, 87 tuổi, từng là dân công hỏa tuyến.
Bà kể: thời ấy bà mới 19 tuổi, quê ở Triệu Phong. Công việc là gánh gạo, nước, thuốc men vào chiến trường. Sau lưng bà lúc nào cũng là hai thùng gạo nặng đến cong cả sống lưng.
“Con gái mà đi gánh gạo, răng không khổ? Nhưng chiến tranh, mô ai được chọn.”
Bà nhớ một buổi trưa giữa tháng 6/1972. Trời nắng đến khét cổ. Đơn vị bà vừa đi qua khu vực bị đánh bom đêm hôm trước. Mùi khói, mùi đất cháy, mùi thịt cháy quyện lại thành thứ mùi mà bà bảo: “Mùi đó ám theo tới bây giờ.”
Bà Huệ và tổ dân công dừng lại một hầm trú tạm. Trong lúc nghỉ, một cô gái trong tổ mở túi lấy ra 10 nắm cơm. Bà Huệ hỏi:
“Rứa lấy cơm mô mà nhiều rứa?”
Cô gái cười:
“Cơm tụi em không ăn sáng để dành đó. Để đưa vào cho thương binh.”
Trên đường đi, họ gặp một anh thương binh ngồi dựa vào gốc cây, người bê bết máu nhưng tay vẫn ôm khẩu súng. Anh nhìn mấy người dân công mà gượng cười:
“Các chị đừng tới, địch còn rình lắm.”
Nhưng cô gái kia vẫn quỳ xuống, đưa nắm cơm:
“Anh ăn đi, lát tụi em cõng về.”
Anh thương binh lắc đầu:
“Để dành cho người khác… tui còn chịu được…”
Nửa tiếng sau, anh hy sinh.
Cô gái đứng lặng, rồi chia nắm cơm ấy làm đôi, đặt một nửa cạnh anh, một nửa mang vào trận địa.
Cô nói:
“Cơm để cho người sống, nhưng cũng để cho người đi xa biết là mình không bị bỏ lại.”
Bà Huệ kết lại:
“Tau sống tới chừ, không phải vì may mắn… mà vì có những người đã san sẻ phần sống của họ cho tau.”



