NHỮNG NĂM THÁNG ẤY
Ông Vinh năm nay đã ngoài tám mươi. Mỗi khi chiều tà, ông thường ngồi bên bờ sông Cấm, nhìn về phía những tòa nhà cao tầng của khu đô thị mới. Trong mắt ông, Thượng Lý không chỉ là phố phường hiện đại, mà còn là một "tọa độ lửa" của năm 1972.
Ông Vinh năm nay đã ngoài tám mươi. Mỗi khi chiều tà, ông thường ngồi bên bờ sông Cấm, nhìn về phía những tòa nhà cao tầng của khu đô thị mới. Trong mắt ông, Thượng Lý không chỉ là phố phường hiện đại, mà còn là một "tọa độ lửa" của năm 1972. Năm ấy, chàng thanh niên Lê Văn Vinh là công nhân bậc 3 của phân xưởng cơ khí. Khi máy bay B-52 của Mỹ bắt đầu rải thảm xuống Hải Phòng, ông không đi sơ tán mà xin ở lại đội tự vệ trực chiến. Công việc của ông là bảo vệ những cỗ máy khổng lồ của nhà máy Xi măng – mạch máu xây dựng của miền Bắc lúc bấy giờ. Ông vẫn nhớ những đêm trắng cùng đồng đội thức bên mâm pháo trên nóc nhà xưởng. Giữa những quãng nghỉ ngắn ngủi, ông lại lấy chiếc kèn Harmonica bạc màu ra thổi. Tiếng kèn của ông vang lên giữa đống đổ nát, len lỏi qua những hố bom, làm dịu đi cái nóng hầm hập của khói thuốc súng. Trong tiểu đội có Thắng, người bạn thân nhất của ông. Thắng hay đùa: "Vinh ơi, thổi bài 'Thành phố Hoa phượng đỏ' đi, để tao quên cái đói mà bắn cho trúng!" Nhưng trong trận đánh ác liệt ngày 16 tháng 4, một quả bom xuyên đã đánh trúng vị trí trực chiến của Thắng. Ông Vinh chạy đến, chỉ còn thấy chiếc mũ sắt méo mó. Ông không kịp khóc, chỉ biết nắm chặt tay súng, thay bạn giữ vững vị trí cho đến khi máy bay địch rút đi. Giờ đây, mỗi khi nhìn thấy hoa phượng nở đỏ rực ven đường, ông Vinh lại nhớ về Thắng, nhớ về những tia lửa hàn xanh lét giữa màn đêm sơ tán. Với ông, thời hoa lửa là quãng đời đẹp nhất, vì ở đó, con người ta đã sống và hy sinh vì nhau mà không một chút tính toán.



