Những Năm Tháng "Chân Trần Chí Thép" Thuở Khai Sinh
Nằm trong thế hệ những người lính đầu tiên nghe theo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu chuyện của cựu chiến binh Trần Văn Phong (sinh năm 1918) đưa chúng ta trở về với thuở bình minh đầy gian khổ nhưng ngập tràn khí thế độc lập của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nhập ngũ năm 1946 khi đã là một người đàn ông 28 tuổi dạn dày, chững chạc và xuất ngũ năm 1948 do thương tật, 2 năm quân ngũ của ông Phong tuy ngắn ngủi so với một đời người, nhưng lại rơi vào đúng giai đoạn cam go, thiếu thốn nhất khi toàn dân, toàn quân ta vừa đi qua Cách mạng Tháng Tám và bước vào cuộc chiến trường kỳ giữ nước.
Những Năm Tháng "Chân Trần Chí Thép" Thuở Khai Sinh
Năm 1946, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, chàng thanh niên Trần Văn Phong đã gác lại cuộc sống gia đình để tham gia vào lực lượng Vệ quốc đoàn. Ở lứa tuổi gần ba mươi, ông mang sự chín chắn, điềm tĩnh của mình làm chỗ dựa tinh thần cho những chiến sĩ trẻ mười chín, đôi mươi trong đơn vị, cùng nhau bước vào cuộc chiến bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước nhà.
Hành trang của người lính Vệ quốc quân ngày ấy vô cùng thô sơ: chiếc mũ nan bọc lưới, manh áo vải sờn và đôi dép cao su cắt vội từ lốp xe hỏng. Vũ khí gậy gộc, súng kíp cướp được của giặc để đánh giặc. Đơn vị của ông Phong nhận nhiệm vụ bám chốt, xây dựng cơ sở kháng chiến và chặn bước tiến của địch tại miền biên viễn hoang vu. Kẻ thù của các anh không chỉ là những loạt đạn súng trường, đạn pháo của giặc, mà còn là cái đói quay quắt, những cơn sốt rét rừng ngã nước ác tính và những đêm sương muối lạnh thấu xương của núi rừng.
"Ngày đó thiếu thốn đủ đường, cơm ăn có khi chỉ là nắm cơm hẩm chấm muối che vội dưới hầm de, manh áo trấn thủ không đủ ấm giữa đêm đông. Nhưng không một ai kêu ca, lùi bước. Chúng tôi sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm đồng chí, bằng niềm tin sắt đá vào ngày độc lập." – Ông Phong bùi ngùi nhớ lại.
Kỷ Niệm Sẻ Chia Hớp Nước Cứu Mạng Giữa Làn Khói Đạn 1947
Trong suốt quãng đời binh nghiệp ngắn ngủi nhưng rực lửa của mình, kỷ niệm khắc cốt ghi tâm nhất của cựu chiến binh Trần Văn Phong gắn liền với chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947. Khi đó, tiểu đội của ông nhận nhiệm vụ chốt giữ một cao điểm để bảo vệ con đường rút lui chiến lược và kho tàng nhu yếu phẩm của quân ta trước sự bao vây càn quét điên cuồng của giặc Pháp.
Giữa cái nắng hầm hập của đại ngàn, xung quanh là tiếng súng nổ chát chúa cày xới nát tấc đất chiến hào, ổ đề kháng của ông Phong bị hỏa lực địch bắn chặn dữ dội, cắt đứt hoàn toàn đường tiếp tế nhu yếu phẩm từ tuyến sau suốt hai ngày liền. Dưới căn hầm ngột ngạt khét lẹt mùi thuốc súng, cái khát như thiêu như đốt từng khúc ruột. Môi ai cũng nứt nẻ rỉ máu, cổ họng khô khốc đến mức không nói nên lời.
Lúc bấy giờ, ông Phong cùng người đồng đội thân thiết tên Nghĩa được phân công chốt giữ khẩu súng trường bên mép hào tiền tiêu. Giữa lúc tưởng chừng như kiệt sức, ông Nghĩa bất ngờ phát hiện ở đáy một chiếc bình tông cũ còn sót lại vài giọt nước mưa đọng lại từ đêm hôm trước, chỉ vừa vẹn một ngụm nhỏ.
Giọt nước lúc ấy quý hơn cả dòng máu trong tim, là ranh giới của sự sống. Ông Nghĩa cẩn thận đỡ chiếc bình tông đưa đến trước mặt ông Phong, thầm thì: "Phong, anh uống đi để lấy sức mà giữ súng, mắt anh đỏ ngầu lên vì mệt rồi!". Nhìn người bạn chiến đấu môi cũng đang khô khốc, da mặt xạm đen vì khói súng, ông Phong gạt đi: "Không, cậu cần tỉnh táo để bắn tỉa, cậu uống đi!".
Đẩy qua gạt lại vài lần dưới làn đạn rít, không ai chịu uống giọt nước cứu mạng ấy một mình. Cuối cùng, ông Nghĩa mỉm cười hiền hậu, nhấp một ngụm nhỏ chỉ đủ ướt môi rồi ép ông Phong uống phần còn lại. Ngay sau đó, địch lại tổ chức một đợt phản kích điên cuồng bò lên chốt. Chính nhờ ngụm nước nghĩa tình và ý chí sắt đá được tiếp thêm từ người đồng đội, ông Phong và ông Nghĩa đã sát cánh bên nhau, kiên cường nổ súng đánh bật đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa cho đến khi vòng vây được phá vỡ, quân ta tiếp viện được lương thực lên cao điểm.
Giữ Vẹn Phẩm Chất Người Lính Tiền Phong
Năm 1948, do thương tật gặp phải sau những trận chiến ác liệt tại chiến trường và sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, cựu chiến binh Trần Văn Phong nhận quyết định xuất ngũ trở về quê hương, khép lại hai năm dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân nơi tuyến đầu.
Bước ra khỏi cuộc chiến tranh khi tuổi đời đã ngoài ba mươi, mang trên mình những vết sẹo của đạn bom và những chứng bệnh mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức nhối, ông lại tiếp tục bước vào một mặt trận mới: tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và kiến thiết quê nhà trong thời kỳ hòa bình lập lại ở miền Bắc sau này. Ý chí và bản lĩnh của người lính "chân trần chí thép" được tôi luyện qua gian khổ đã giúp ông đứng vững trước những vất vả, thiếu thốn của cuộc sống, nuôi dạy con cháu trưởng thành và luôn sống gương mẫu tại địa phương.
Đối với ông Trần Văn Phong, quãng thời gian từ năm 1946 đến 1948 ngắn ngủi so với một đời người, nhưng lại là quãng thời gian rực rỡ và tự hào nhất. Câu chuyện về hớp nước nghĩa tình dưới chiến hào năm xưa vẫn luôn vẹn nguyên trong ký ức, như một bài ca bất tử về tình đồng chí son sắt, thủy chung của những người lính Bộ đội Cụ Hồ từ những ngày đầu lập nước


