Những năm tháng không phai của người nữ TNXP quê Hóa Quỳ
Bà Vi Thị Xuân (sinh năm 1950, thôn Quang Trung, xã Hóa Quỳ) tham gia Thanh niên xung phong năm 1969, vào chiến trường Quảng Bình – Quảng Trị làm nhiệm vụ mở đường, tải gạo, hậu cần, từng trải qua nhiều khoảnh khắc sinh tử giữa bom đạn. Năm 1971 bà kết hôn với ông Nguyễn Xuân Bính rồi tiếp tục phục vụ đến năm 1972 thì phục viên về địa phương. Sau chiến tranh, bà tích cực hoạt động Cựu chiến binh, Cựu TNXP, từng làm Chủ tịch Cựu TNXP xã Bình Lương (2009–2020) và được Nhà nước trao nhiều giấy khen
Có những con người đi qua thời hoa lửa lặng lẽ như hạt bụi, nhưng ký ức họ mang theo thì lấp lánh như những vì sao không bao giờ tắt. Câu chuyện của bà Vi Thị Xuân là một mạch nguồn như thế....Bà Vi Thị Xuân, sinh năm 1950, quê ở thôn Quang Trung, xã Hóa Quỳ. Tuổi mười chín – cái tuổi người ta còn mơ mộng những mùa trăng đầu đời – bà đã khoác ba lô, rời quê nhà, để lại sau lưng mái nhà tranh và lời dặn dò nghẹn ngào của mẹ.
Ngày 14/04/1969, bà tham gia Thanh niên xung phong tập trung tại huyện Như Xuân cũ, rồi cùng đoàn hành quân thẳng vào Lệ Thủy – Quảng Bình, trở thành chiến sĩ của đơn vị C2377 – N237 – P31 – Ban XD67. Đơn vị đóng quân giữa rừng sâu, dốc 10%, nơi đất đá và bom đạn giành nhau từng mét đường. Công việc của bà và đồng đội là mở đường, tải gạo, làm hậu cần – những công việc thầm lặng nhưng quyết định sự sống còn của chiến trường. Tiểu đội C7 của bà có 12 người, đến từ hai huyện Như Xuân và Thường Xuân cũ – những cô gái trẻ gầy gò mà gan dạ, coi cái chết nhẹ hơn lời thề với Tổ quốc. Ký ức không thể nào quên của bà là một lần đang cáng thương, đưa đồng đội về hầm trú ẩn, thì máy bay Mỹ tiếp tục trút bom ngay khu vực đó. Giữa khoảnh khắc sinh – tử mong manh, bà giật mình lao xuống hầm… và rơi trúng vào một người dân đang mang bầu.Cả hai sững lại trong một nhịp tim. Rồi khi biết không ai bị thương, họ nhìn nhau cười bật lên – nụ cười giữa khói bom, giữa cái chết rình rập, vừa run rẩy vừa kiên cường. Chiến tranh là thế: đau thương chồng chất, nhưng con người vẫn tìm được cách cười để sống, cười để tin ngày mai còn tới.Trong những năm tháng ấy, bà có hai người đồng đội thân thiết nhất: bà Nguyệt (Như Thanh) và bà Thủy (Thường Xuân).Ba con người – ba số phận – nhưng cùng chung một con đường. Họ ăn chung nắm cơm, ngủ chung hầm đất, san sẻ từng ngụm nước, che cho nhau khi bom rơi, gọi tên nhau trong những đêm rừng lạnh buốt. Có những lần tải gạo, mở đường suýt bị dẫm phải bom tưởng không còn ngày gặp lại, nhưng chính tình đồng đội ấy đã giữ họ đứng vững, để cùng nhau vào sinh ra tử, cùng mang theo ký ức không thể phai mờ suốt một đời người. Trước ngày khoác ba lô lên đường, bà có một người thương cùng thôn, cùng lớn lên bên những lối đất đỏ và bờ tre làng. Không lời thề non hẹn biển, chỉ là những ánh nhìn hiểu nhau và một lời hứa rất khẽ: “Hòa bình, em về.” Khi bà vào TNXP, còn ông ở lại làm cán bộ thông tin liên lạc, hai người nối nhịp tim bằng những lá thư mỏng. Thư đi qua bom đạn, qua những cung đường bị cày xới, có lá đến chậm hàng tháng, có lá chỉ vỏn vẹn vài dòng, nhưng dòng nào cũng ấm. Bà đọc thư giữa rừng sâu, dưới ánh đèn dầu leo lét, nghe tim mình đập đều hơn giữa tiếng máy bay gầm rú. Có những lúc chiến trường khốc liệt, thư bặt tin, bà giấu nỗi lo vào đáy ba lô, chỉ biết tin và chờ. Còn ông, ở nơi tuyến sau, cũng dõi theo từng tin tức từ mặt trận, giữ trọn lời hẹn như giữ một mệnh lệnh của trái tim. Chiến tranh thử thách tình yêu bằng khoảng cách và sinh tử, nhưng chính điều đó lại làm tình yêu của họ sâu hơn, chín hơn, không cần phô bày.
Năm 1971, trong lần bà được về phép hiếm hoi, hai người nên duyên vợ chồng. Đám cưới giản dị, không rộn ràng váy áo, chỉ có nụ cười hiền, vài chén nước chè và lời chúc mộc mạc của xóm làng. Hạnh phúc đến nhanh, rồi bà lại khoác ba lô trở vào chiến trường, để lại phía sau một người chồng trẻ và lời dặn: “Em đi, rồi em sẽ về.”Hạnh phúc ngắn ngủi, bà lại trở vào chiến trường Quảng Bình – Quảng Trị, tiếp tục phục vụ đơn vị cho đến năm 1972, khi bà phục viên trở về địa phương.Chiến tranh lùi xa, nhưng tinh thần người lính thì không bao giờ cũ. Năm 1993, bà tham gia sinh hoạt Cựu chiến binh. Năm 2006, tiếp tục gắn bó với Cựu Thanh niên xung phong. Từ 2009 đến 2020, bà giữ cương vị Chủ tịch Cựu TNXP xã Bình Lương, luôn hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, là chỗ dựa tinh thần cho đồng đội năm xưa.Những cống hiến bền bỉ ấy đã được Nhà nước ghi nhận bằng giấy khen, bằng khen, kỷ niệm chương Cựu TNXP – nhưng hơn tất cả, phần thưởng lớn nhất chính là một cuộc đời sống trọn vẹn với lý tưởng, nghĩa tình và trách nhiệm. Thời hoa lửa đã đi qua, nhưng những con người như bà Vi Thị Xuân thì còn mãi – như một ngọn lửa nhỏ, âm ỉ mà bền bỉ, sưởi ấm ký ức hôm nay và thắp sáng niềm tin cho mai sau.



