Khác

Những năm tháng không quên

Những ngày này cách đây 60 năm, vùng mỏ Cẩm Phả rực rỡ cờ hoa. Đó là ngày bộ đội ta tiến về tiếp quản vùng than, chấm dứt hơn 70 năm thực dân Pháp cai trị chìm trong máu và nước mắt. Người công nhân mỏ từ ấy ngẩng cao đầu, vùng than từ ấy ngày một đổi thay.

Quảng Ninh03/03/2026Sưu tầm: Ninh Hải Hà (Đơn vị sưu tầm: Vật tư TKV)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cẩm Phả ngày nay là một thành phố giàu đẹp nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, nhưng trong suốt những năm tháng chiến tranh, nơi này đã hứng chịu biết bao đau thương và thử thách. Than - nguồn tài nguyên thiên nhiên quý đã giúp Cẩm Phả xác lập vị thế là trung tâm công nghiệp của vùng mỏ, nhưng đồng thời cũng khiến nơi đây trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử.

Từ những ngày “đất bỏng”

Năm 1888, sau khi mua lại vùng mỏ từ tay triều đình Huế, thực dân Pháp thành lập công ty than Bắc Kỳ, trụ sở chính đặt tại Cẩm Phả và tiến hành thăm dò khai thác. Vùng mỏ Quảng Ninh nhanh chóng trở thành khu công nghiệp lớn và quan trọng nhất ở Việt Nam và Đông Dương thời bấy giờ.

Cũng rất nhanh chóng, công nhân mỏ trở thành lực lượng dân cư chính tại đây. Từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Nam Định, Thái Bình,... họ đổ về đây làm phu mỏ ngày một đông. Thợ mỏ và gia đình ở trong các lán thợ xập xệ trải dài dưới chân các mỏ than, sống lầm than bằng đồng lương chết đói. “Lên tầng đường thẳm dốc dài/Đèo cao chịu khó mà nhoai lên tầng”, không chỉ bị bóc lột sức lao động 10-12 tiếng/ngày, công nhân mỏ còn bị bọn cai thợ đàn áp, đánh đập tàn nhẫn.

Bằng ý chí bất khuất được trui rèn, những người thợ mỏ luôn mang trong mình mối căm thù và ý thức phản kháng sục sôi, có sức mạnh “vượt xa số lượng của nó”. Chính ý chí quật cường ấy là cơ sở để công nhân Cẩm Phả tiếp thu lý tưởng cách mạng, tư tưởng Mác Lê-nin và dần trưởng thành. Đây là nơi đầu tiên ở Quảng Ninh thành lập Chi bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội năm 1928, nơi xuất bản tờ báo Than, tổ chức những hoạt động đấu tranh gây chấn động làm nức lòng công nhân cả nước.

Cẩm Phả cũng là nơi khởi đầu cho cuộc tổng bãi công của hơn 3 vạn thợ mỏ từ ngày 12/11/1936 - nay đã trở thành ngày truyền thống công nhân mỏ Việt Nam. Tinh thần đoàn kết - kỷ luật - đồng tâm đã buộc bọn chủ phải nhượng bộ tăng lương giảm giờ làm, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của người công nhân. Từ đây, phong trào đấu tranh được thúc đẩy mạnh mẽ để tháng 8/1945, Cẩm Phả cùng cả nước tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Kháng chiến chống Pháp trường kỳ tiếp tục thử thách quân dân vùng than. Tháng 11/1946, Pháp quay lại chiếm đóng, nhân dân Cẩm Phả vừa đảm bảo sản xuất, vừa tiến hành chiến tranh du kích. 9 năm kháng chiến với bao đau thương, mất mát, những Đài tưởng niệm liệt sĩ như ở Vũng Đục vẫn còn đó như tấm bia khắc ghi căm thù. Lòng kiên trung, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng của nhân dân, của công nhân mỏ Cẩm Phả đã góp sức làm nên thắng lợi cuối cùng.

Nhớ mãi ngày giải phóng

Tháng 7/1954, sau Hiệp định Giơnevơ, nhiều địa phương trên cả nước đã được giải phóng, nhưng Cẩm Phả - Cửa Ông vẫn là vùng tập kết 300 ngày của quân Pháp. Cho tới tận thời khắc lịch sử ngày 22/4/1955, cờ giải phóng mới được tung bay trên mảnh đất này.

.Quân giải phóng về tiếp quản khu mỏ ngày 22/4/1955

Nhà giáo Vũ Hiển, người gắn bó trọn đời với Cẩm Phả bồi hồi nhớ lại: “Lúc ấy, tôi 14 tuổi, nhà tôi cũng như nhiều gia đình là cơ sở cách mạng ở Cẩm Bình nô nức may cờ chờ ngày giải phóng. Trẻ con chúng tôi háo hức vô cùng, thi nhau học cách để gấp và cắt được ngôi sao 5 cánh sao cho thật đẹp”.

Ngày 22/4 luôn in đậm trong tâm trí của những người sống trong lịch sử như một ấn tượng không thể phai mờ. “Hôm ấy, tôi dắt em trai ra cổng nhà thờ ngóng chờ xe giải phóng đến. Xe bộ đội ta đi đến đâu, cờ hoa vẫy theo đến đó, khắp nơi hô vang những khẩu hiệu “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Hoan hô giải phóng”... Âm vang ấy vẫn theo tôi đến tận bây giờ”.

Cụ bà Nguyễn Thị Chiên, nay đã 93 tuổi cũng không nén nổi xúc động: “Tôi nhớ như in khoảnh khắc lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ tung bay trên nóc Lô cốt của quân Pháp. Vùng mỏ giải phóng rồi, dân ta tự do rồi”.

12h ngày 24/4/1955, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi khu mỏ và ngày 25/4/1955 rút khỏi Hòn Gai tại bến phà Bãi Cháy.

“Gương mặt người, ai cũng sáng long lanh”

Sau giải phóng, vùng mỏ Cẩm Phả bước sang trang mới, nhưng cũng là bước vào những khó khăn lớn. Trước khi rút đi, bọn chủ Pháp đã phá huỷ những gì còn sót lại và vơ vét đến những hòn than cuối cùng. Nguồn tài nguyên dồi dào chỉ còn lại là những mỏ than kiệt quệ, là những công trường thủ công, trang bị kỹ thuật nghèo nàn.

“Tinh thần, chỉ có tinh thần mới giúp người thợ mỏ sản xuất bằng năm, bằng mười trước kia, vực dậy sản xuất, vừa xây dựng đất nước, vừa góp sức cùng cả miền Bắc chi viện cho miền Nam suốt những năm chống Mỹ”, nhà văn, nhà thơ Trần Tâm - người con nhiều duyên nợ của Cẩm Phả xúc động kể lại.

Cẩm Phả ngày hôm nay là thành phố trưởng thành từ những năm tháng đấu tranh khốc liệt

Tinh thần bất khuất của người công nhân mỏ dẫn đường cho nhân dân Cẩm Phả lao động và chiến đấu, mặc cho những trận bom của Mỹ trút xuống đây những năm 1964, 1972. Vẫn còn đó những địa danh quen thuộc gắn với bao năm tháng đấu tranh, sản xuất không biết mệt mỏi. Nhà máy Cơ khí trung tâm - nhà máy cơ khí lớn nhất miền Bắc lúc bây giờ, Hang Đá Chồng, Trận địa Pháo cao xạ, núi Cốt Mìn, cầu Poóc-tích,...

Sau Đại thắng mùa xuân 1975, mùa xuân cũng đến vùng than, người Cẩm Phả mang bàn tay, khối óc của những con người “sống cùng than”, bước vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. “Đời ông bà tôi chỉ thấy đau thương, không thể ngẩng cao đầu, tới đời cha mẹ tôi đã thấy nụ cười trên môi, còn thế hệ sau này, “gương mặt người, ai cũng sáng long lanh”, nhà văn Trần Tâm rạng rỡ.

Giờ đây, đến với Cẩm Phả, người ta ngỡ ngàng bởi những sự đổi thay. Thành phố là khu công nghiệp than lớn nhất của Quảng Ninh, văn minh, hiện đại và phát triển bền vững. Các “làng mỏ” ngày nay mang diện mạo mới, nhiều công trình văn hoá, thương mại được mọc lên. Người thợ mỏ hôm nay có sức khoẻ, tri thức tốt, được chăm lo đời sống vật chất và tinh thần lành mạnh, trở thành hình ảnh đại diện cho người dân vùng than. Họ đã tiếp nối truyền thống của cha ông, biến “đất bỏng” Cẩm Phả thành “đất hứa” để sống và cống hiến, bắt đầu từ những ngày tháng 4 lịch sử năm ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Những năm tháng không quên | Câu chuyện thời hoa lửa