Những Năm Tháng Không Thể Quên
Những Năm Tháng Không Thể Quên
Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, biết bao người lính đã cống hiến tuổi xuân, máu xương cho độc lập dân tộc. Họ không chỉ anh dũng nơi chiến trường mà khi hòa bình lập lại vẫn tiếp tục sống đẹp, sống nghĩa tình, gìn giữ ký ức lịch sử cho thế hệ mai sau. Cựu chiến binh Nguyễn Văn Kiểm là một con người như thế. Ông không chỉ là người lính từng chiến đấu kiên cường tại Cầu Kinh năm xưa mà còn là người âm thầm trông nom khu di tích, lưu giữ ký ức hào hùng của một thời hoa lửa.
Ông Nguyễn Văn Kiểm sinh năm 1946, quê ở xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, nay thuộc xã Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh. Ông từng là chiến sĩ Tiểu đoàn 5 Nhà Bè, Đại đội 316, tham gia nhiều trận chiến ác liệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đặc biệt, ông trực tiếp chiến đấu tại khu vực Cầu Kinh trong suốt 45 ngày đêm năm 1967 – một trận chiến đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt.
Theo lời kể của ông, trận chiến ở Cầu Kinh là một cuộc đối đầu vô cùng khốc liệt. Quân Mỹ huy động nhiều máy bay, tàu chiến, pháo binh tấn công dữ dội. Bom đạn dội xuống liên tục, mặt đất rung chuyển, khói lửa mịt mù. Nhưng trong mưa bom bão đạn ấy, quân ta vẫn chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt nhiều địch, bắn rơi máy bay, đánh chìm tàu chiến. Đó là những chiến công làm sáng ngời tinh thần bất khuất của người lính cách mạng.
Khi kể lại những ngày ấy, giọng ông Nguyễn Văn Kiểm vẫn mạnh mẽ, hào hùng như sống lại cùng chiến trường năm xưa. Nhưng đằng sau chiến công là biết bao ký ức xúc động về đồng đội. Ông từng tưởng người đồng đội thân thiết Tám Nghĩa đã hy sinh khi trúng đạn giữa trận chiến. Trong lúc cố cứu đồng đội, bản thân ông bị thương nặng ở tay trái. Giữa ranh giới sự sống và cái chết, ông mang nỗi đau mất đồng đội trong tim. Thế nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra khi sau đó ông bất ngờ gặp lại Tám Nghĩa tại trạm y tế. Cuộc hội ngộ ấy không chỉ là niềm vui sống sót mà còn là minh chứng đẹp về tình đồng chí thiêng liêng.
Chiến tranh qua đi nhưng để lại trên cơ thể ông những vết thương không bao giờ lành hẳn. Năm 1970, ông bị trúng đạn, mất cánh tay phải, trở thành thương binh nặng. Nhưng thương tật không làm ông khuất phục. Ông vẫn giữ tinh thần kiên cường của người lính năm xưa, tiếp tục sống lạc quan và thủy chung với đồng đội.
Điều khiến em cảm phục nhất ở ông Nguyễn Văn Kiểm là dù đã đi qua chiến tranh, ông không quên những người đã ngã xuống. Mỗi ngày, ông đều đến khu di tích Cầu Kinh lau dọn, chăm sóc cây cảnh, thắp nhang tưởng nhớ đồng đội. Trước khi khu di tích được xây dựng, ông từng lập miếu thờ liệt sĩ để hương khói cho những người đã hy sinh. Từ khi khu di tích được xây dựng năm 2013, ông tình nguyện trông nom, gìn giữ nơi đây như một phần máu thịt của mình.
Ông từng nói làm những việc ấy không phải vì tiền bạc, mà vì niềm vui và trách nhiệm. Câu nói giản dị nhưng chứa đựng một tấm lòng lớn lao. Đó là trách nhiệm với lịch sử, với đồng đội và với thế hệ trẻ hôm nay.
Khi nhắc đến đồng đội đã hy sinh, giọng ông nghẹn lại, đôi mắt đỏ hoe. Những người đồng đội năm xưa nhiều người ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo bao ước mơ còn dang dở. Chính vì thế, ông càng quý trọng hòa bình và luôn mong thế hệ trẻ hiểu, trân trọng những hy sinh của cha anh.
Ở ông Nguyễn Văn Kiểm, em thấy hội tụ vẻ đẹp của một người lính anh dũng trong chiến tranh và một con người giàu tình nghĩa trong thời bình. Ông không chỉ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn âm thầm gìn giữ ký ức lịch sử, để những câu chuyện chiến tranh không rơi vào quên lãng.
Câu chuyện về ông Nguyễn Văn Kiểm giúp em hiểu rằng lòng yêu nước không chỉ thể hiện ở chiến đấu nơi chiến trường mà còn ở sự thủy chung, biết ơn quá khứ và trách nhiệm giữ gìn lịch sử. Ông là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo, nhắc nhở chúng em phải sống có lý tưởng, biết trân trọng hòa bình và ghi nhớ công lao của những người đi trước.
Em vô cùng kính phục và biết ơn cựu chiến binh Nguyễn Văn Kiểm. Hình ảnh người lính già ngày ngày lặng lẽ chăm sóc khu di tích Cầu Kinh khiến em xúc động sâu sắc. Ông chính là ngọn lửa sống động của “thời hoa lửa”, truyền lại cho thế hệ hôm nay niềm tự hào, lòng biết ơn và trách nhiệm với quê hương, đất nước.


