Những năm tháng ông Đỗ Văn Sáu tham gia kháng chiến tại nước Bạn Lào
Ông Đỗ Văn Sáu sinh năm 1944, ở tuổi 85, tuổi cao nhưng vẫn còn khá minh mẫn. Nghe bác kể về những năm trải qua sự khốc liệt của chiến tranh của bác và các đồng đội trên đất nước bạn Lào mà bồi hồi xúc động. Bác kể, ngày bác nhập ngũ 20/12/1967 trong cái lạnh của miền bắc, thực hiện theo tiếng gọi của Đảng bác lên đường nhập ngũ trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ cứa nước khốc liệt nhất của toàn Đảng và toàn dân ta. Sau huấn luyện đơn vị các bác được điều ra chiến trường thượng Lào, đến cuố

Ông Đỗ Văn Sáu sinh năm 1944, ở tuổi 85, tuổi cao nhưng vẫn còn khá minh mẫn. Nghe bác kể về những năm trải qua sự khốc liệt của chiến tranh của bác và các đồng đội trên đất nước bạn Lào mà bồi hồi xúc động. Bác kể, ngày bác nhập ngũ 20/12/1967 trong cái lạnh của miền bắc, thực hiện theo tiếng gọi của Đảng bác lên đường nhập ngũ trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ cứa nước khốc liệt nhất của toàn Đảng và toàn dân ta. Sau huấn luyện đơn vị các bác được điều ra chiến trường thượng Lào, đến cuối năm 1968 đơn vị bác tham gia chiến đấu tại thượng Lào. Thọc sâu vào lòng địch đơn vị nhận nhiệm vụ tại trung Lào, Siêng Khoảng nơi đâu cũng có dấu chân của người lính trinh sát. Đến ngày 25/4/1969 bác bị thương và được cấp cứu tại Lào sao đó luân chuyển về cấp cứu tại các tuyến phía sau. Đến đầu năm 1970 bác được đưa về nước cứu chữa. Đến cuối năm 1970 bác lại được điều động sang chiến đấu tại thượng Lào. Những năm 1970-1971 Mặt trận Lào, chiến trường C là nơi giao tranh rất ác liệt giữa liên giữa liên quân Việt- Lào với địch. Cùng với các đồng chí nước bạn Lào làm nhiệm vụ quốc tế chống đế quốc Mỹ xâm lược trong đội hình các Sư đoàn 316, 324, 968, 678, Trung đoàn công binh 217... tham gia chiến đấu từ thượng Lào đến trung Lào nhất là Siêng Khoảng nơi mà các đồng đội hi sinh nhiều nhất, kể đến đây bác lại rưng rưng nước mắt bởi nhớ lại những tháng năm gian khổ ấy. Những chiến sĩ cách mạng sang nước bạn làm nhiệm vụ thiêng liêng cao cả ấy, nhiều đồng đội của bác đã nằm xuống nơi đất ban, bom đạn giày séo lên thân sác các đồng chí đồng đội của bác, nhưng chiến tranh ác liệt nhiều đồng đội không còn khả năng tìm được di hài để đưa về với đất mẹ. Họ đã chấp nhận muôn vàn gian khổ, ác liệt, hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và nhà nước giao phó. Đến cuối năm 1972 do bị thương quá nặng bác được đưa về nước cứu chữa và xuất ngũ trở về địa phương.
Đến năm 2020 bác được vinh dự nhận huân chương kháng chiến hạng nhì của chủ tịch nước tặng. Dẫu chiến tranh đã qua đi rất nhiều năm nhưng rất nhiều di chứng để lại cho bác không bao giờ có thể chữa lành được. Những vết sẹo do bom đạn để lại vẫn đau theo năm tháng, đặc biệt thứ chất độc mà đế quốc mỹ giải thảm đã làm cho bao nhiêu chiến sỹ của ta bị nhiễm chất đọc màu ra cam, ảnh hưởng đến muôn đời sau. Những câu chuyện mà bác kể sẽ là bài học cho con cháu đến muôn đời sau biết được sự gian khổ của chiến tranh khi các cháu được sống trong hòa bình cần quý trọng sự thiêng liếng đó, niềm hòa bình mà ông cha ta đã đánh đổi bằng sương máu của mình ./



