NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TÌM VỀ QUÊ MẸ
Chị tôi hy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1970. Mãi mấy tháng sau, gia đình tôi mới biết tin dữ. Hôm đó là một ngày đầu đông, có mấy người khách đến gặp gia đình. Mẹ tôi ngã vật xuống giường lặng đi không nói được câu nào. Nhưng mẹ tôi không khóc. Mẹ tôi là một người phụ nữ ít nói, đầy nghị lực và đầy lý trí. Có lẽ nỗi đau đã đông lại trong tim thành một khối rắn chắc, kể từ đó mẹ tôi càng ít nói và hầu như tôi không thấy mẹ tôi cười.
Giấy báo tử không nói rõ hoàn cảnh chị tôi hy sinh. Đồng đội cũng mỗi người nói một khác. Người thì kể trên đường về đồng bằng xin tiếp tế cho bệnh xá chị tôi gặp ổ phục kích của Mỹ, chị báo động cho đồng đội chạy thoát và ở lại yểm trợ rồi hy sinh. Người khác kể bệnh xá bị địch tập kích, chị hy sinh để bảo vệ thương binh. Có người lại kể toán công tác của chị có bốn người, hy sinh ba, chỉ còn một người thoát, đó là chị y tá Nguyễn Thị Rô. Cuộc chiến tranh quá khốc liệt, cái chết diễn ra từng ngày, từng giờ, chị tôi hoà lẫn trong trong muôn ngàn người đã lặng lẽ hy sinh vì Tổ quốc, người ta có thể lẫn lộn trường hợp này với trường hợp khác. Có một điều chắc chắn là chị tôi hy sinh trong tư thế đương đầu với giặc. Một vết đạn sâu hoắm ghim ngay giữa trán chị - điều này khi mẹ và tôi cùng em Quang, anh Nhàn lên vùng núi Ba Tơ để đưa chị về đồng bằng tôi đã nhìn thấy. Anh Tâm, nguyên Phó Bí thư Huyện uỷ Đức Phổ đã nghỉ hưu cho biết anh được nghe kể lại trước khi hy sinh chị còn hô vang “Hồ Chí Minh muôn năm! Đả đảo đế quốc Mỹ”. Tôi cũng không rõ đó có phải là sự thật hay không, hay chỉ là một huyền thoại mà người dân Đức Phổ yêu thương chị kể lại cho thế hệ sau nghe về một nữ bác sĩ người Hà Nội trẻ trung xinh đẹp đã chiến đấu và nằm lại trên quê hương họ - trên mảnh đất Đức Phổ mà chị đã coi là quê hương thứ hai của mình.
Giấy báo tử chỉ là một mẩu giấy nhỏ, đánh máy rất đơn giản. Thời chiến, rất nhiều gia đình miền Bắc, hầu như dại đa số, đều từng phải nhận một hoặc hai hoặc nhiều hơn những mẩu giấy như thế. Giấy trắng mực đen nhưng chúng tôi vẫn không tin, vẫn muốn hy vọng đó chỉ là một sự nhầm lẫn. Cả đến khi một người bạn của chi tôi là thương binh được đưa ra miền Bắc điều trị tìm đến nhà và khẳng định, chúng tôi vẫn không muốn tin.
Lúc này cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Mỹ đã kết thúc, sau khi chính phủ Mỹ tuyên bố chấm dứt vô điều kiện các cuộc không kích, pháo kích ở Miền Bắc, cuộc sống ở Hà Nội dường như đã quay trở lại bình thường. Mọi người từ các nơi sơ tán lại trở về. Người lớn thì đi làm ở các cơ quan, nhà máy, trẻ em đến trường, các cửa hàng lương thực, thực phẩm, dịch vụ lại mở cửa. Nhưng với các gia đình liệt sĩ, cuộc sống đã vĩnh viễn thay đổi. Một người cha, người chồng, một hoặc nhiều người con không trở về. Thêm một bát hương trên bàn thờ. Lác đác vẫn có thư từ chiến trường gửi về nhưng đó là những bức thư từ nhiều tháng, nhiều năm trước vượt qua bom đạn trên dãy Trường Sơn để muộn màng đến được tay gia đình, người viết thư đã hy sinh trên một nẻo đường nào đó ở chiến trường B xa xôi. Nhưng vẫn hy vọng.
Chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tháng 8 năm 1976, mẹ cùng tôi, em Quang và anh Nhàn, anh rể tôi, chồng chị Phương Trâm, về Quảng Ngãi để tìm đến nơi chôn cất chị.
Miền Nam vừa được giải phóng, ngổn ngang khắp nơi là dấu tích của đạn bom, xe tăng, súng đạn, những khung nhà cháy rụi, hai bên vệ đường quốc lộ là những vạt cỏ cháy xém chi chít các hố bom. Giao thông mới chỉ thông được từng đoạn. Tàu hỏa chỉ tới được Đồng Hới, Quảng Bình. Từ Quảng Bình đi xe khách để vào Đà Nẵng. Mặc dù đường đi có qua Huế, mấy chị em chúng tôi chưa từng được về quê nội, chúng tôi cũng chỉ được đi ngang qua thành phố quê hương chứ không thể dừng lại. Vì đã hẹn trước với các anh ở ban Dân y Đức Phổ nên chúng tôi cố gắng đi Đức Phổ càng sớm càng tốt. Từ Đà Nẵng bắt xe đò đi tiếp Quảng Ngãi. Từ ngữ hai miền đã có chút khác nhau: Trên đất Bắc thì gọi là xe khách, vào đến miền Nam đã gọi thành xe đò. Từ Hà Nội đi Quảng ngãi mất bốn ngày, hai ngày tàu hỏa và một ngày xe khách và một ngày xe đò.
Từ Quảng Ngãi đi Đức phố không có xe đò mà chỉ có xe lam - chúng tôi ngồi xe lam, chen chúc cùng mười mấy các má, các chị buôn thúng bán bưng. Hình như toàn phụ nữ, tôi không nhớ có người đang ông nào khác ngoài anh Nhàn và em Quang trên chuyến xe ấy. Những người dân miền Nam đầu tiên gặp trên xe đò, xe lam gây cho tôi ấn tượng hồn hậu và cởi mở. Vốn ở vùng Trung Trung Bộ, đặc biệt mấy tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi là vùng giằng co ở thế cài răng lược giữa ta và địch, ở rất nhiều thôn xã chính quyền miền Nam chỉ kiểm soát được vào ban ngày, ban đêm gần như là địa bàn của ta, sau khi được giải phóng bà con như đươc bước ra giữa ban ngày. Họ đón nhận người miền Bắc rất tự nhiên, không hề xa lạ hay đối địch.
Các anh trong ban Dân y huyện Đức Phổ đón chúng tôi rất ấm áp. Anh Lê Văn Khương, năm 1967 - 1968 khi chị Thùy mới về công tác thì anh là bệnh xá trưởng, nay là trưởng ban Dân y của huyện, anh bố trí chỗ nghỉ cho mấy má con chúng tôi rất chu đáo. Mấy chị ôm lấy má tôi khóc hoài, câu chuyện không đầu không cuối nhưng không ai kể rõ cho chúng tôi nghe hoàn cảnh hy sinh của chị Thùy Trâm. Những năm tháng ấy, đã bao nhiêu liệt sĩ ngã xuống, mỗi người đều hy sinh trong một hoàn cảnh khốc liệt, chị tôi cũng chỉ là một trong những người đã ngã xuống trên mảnh đất này
Mãi về sau này, 35 năm sau, tôi mới được biết tường tận về hoàn cảnh chị tôi hy sinh. Tháng 6 năm 1970, quân Mỹ mở cuộc càn quét quy mô lớn lên vùng núi Đức Phổ - Ba Tơ, bệnh xá Đức Phổ bị kẹt giữa vòng vây. Sau hơn mười ngày cầm cự, nuôi giấu và chữa trị cho thương binh trong điều kiện vô cùng ngặt nghèo, ngày 22 tháng 6 năm1970, trên đường đi tìm vị trí để di chuyển bệnh xá khỏi vòng vây địch, chị chạm trán với một đơn vị lính Mỹ phục kích và hy sinh anh dũng tại xóm Đồng Lớn, thôn Nước Đang, Ba Khâm, Ba Tơ. Hài cốt của chị được đồng bào địa phương an táng tại nơi chị ngã xuống và luôn hương khói.
Sáng hôm sau chúng tôi dậy rất sớm để lên núi. Đêm trước, quá mệt sau mấy ngày lăn lóc trên những chiếc xe chật nêm, xóc nảy, tôi ngủ một mạch. Nhưng sáng dây tôi thấy má tôi đã ngồi bên bàn, hình như má tôi chưa hề đặt lưng xuống giường. Ban Dân y bố trí một chiếc xe jeep mui trần - xe của Mỹ, là chiến lợi phẩm. Có ba thanh niên đeo súng AK hộ tống mấy má con chúng tôi, các anh nói hiện tình hình trên núi rất phức tạp, quân Fulro lẩn khuất và có thể tấn công bất cứ lúc nào. Trong ba anh, sau này tôi có được gặp lại hai người là anh Một và anh Thông.
Xe chỉ đến được chân núi, rồi chúng tôi bắt đầu leo lên rừng già Ba Tơ, cái địa danh chị từng nhắc đến trong những bức thư gửi về nhà. Đường rất dốc, ngoằn ngoèo len lỏi trong rừng, nhiều đoạn cheo leo bên bờ vực.
Mộ chị tôi nằm trên lưng chừng núi, cạnh con đường mòn dẫn sâu vào rặng Ba Tơ, có hai cây Kơ nia làm mốc. Một đống đá rêu xanh đã phủ đầy, phía trước cắm tấm bia gỗ khắc hàng chữ “Bác sĩ Đặng Thùy Trâm - hy sinh 22/6/1970”. Chân hương vẫn còn mới, bà con quanh đây vẫn thắp hương cho chị. Mẹ tôi quỳ trước bia mộ, bà vẫn không rơi giọt nước mắt nào, chỉ trắng bệch như một tờ giấy.
Không có quan quách gì - chị được bọc trong một tấm vải bạt màu xanh. Tôi đờ đẫn nhìn hài cốt chị, đăm đăm vào một điểm: một vết đạn sâu hoắm ngay giữa xương trán. Hình ảnh ấy găm chặt vào tim tôi, vào tâm trí tôi, vào bộ não của tôi đến bây giờ thấy rõ mồn một hệt như trong giây phút ấy.
Anh Nhàn ôm lấy mẹ tôi, các anh du kích đưa hài cốt chị tôi cùng mấy mẹ con trở lại xuống núi. Tối hôm ấy chúng tôi đặt chị nằm trong nghĩa trang xã Phổ Hòa, trên khoảng đất kẹp giữa đường quốc lộ 1 và đường sắt Bắc Nam. Sau này người ta lập nghĩa trang liệt sĩ của xã ở đó. Mỗi lần ngồi trên tàu vào Nam, đến đây tôi vẫn cố nhoài người ra để nhìn nơi chị nằm.
Mãi đến năm 1983, chúng tôi mới đưa được chị về Hà Nội. Kể từ đó chị an nghỉ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Nhổn (Nam Từ Liêm, Hà Nội). Lần này mẹ và chị Hiền vào Quảng Ngãi đón chị về.


