Khác

Những ngày cuối cùng ở địa ngục trần gian Côn Đảo

Ông Trịnh Văn Lâu (thường gọi Tư Cẩn), nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, VII, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh và Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, đã nghỉ hưu, năm nay 83 tuổi. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông bị địch bắt, cầm tù tại Côn Đảo từ năm 1970 đến 1975. Dưới đây là lời kể của ông về những tháng ngày ở “địa ngục trần gian” này.

Phú Thọ25/02/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Dũng Tiến - sưu tầm (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Dũng Tiến)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 14-4-1970, tôi bị địch bắt. Sau 3 tháng tra tấn, địch giải tôi từ Vĩnh Long sang Cần Thơ. Chúng thừa biết tôi là ai, nhưng do không đủ chứng cứ để cấu thành án nên chúng không thể đưa tôi ra tòa. Ngày 16-7-1970, địch đày tôi ra Côn Đảo, với quyết định “câu lưu” của tên tỉnh trưởng. Dĩ nhiên quyết định này chỉ có giá trị 2 năm, nhưng chúng đã từng đày biết bao đồng chí không có ngày về, vì hết 2 năm chúng lại ký tiếp 2 năm nữa. Tôi bị giam ở trại 6B. Tuy chưa có kinh nghiệm đấu tranh trong tù, nhưng tôi lại là người mới từ bên ngoài vào nên có nhiều thông tin về tình hình chiến sự, nắm vững chủ trương của Đảng.

Một hôm, đang ở phòng “gạn lọc”, tôi giả bệnh không đi chào cờ. Hết giờ, tôi đi rảo quanh, tên trưởng trại đến hỏi tôi:

- Ông không bị bệnh?

- Có!

- Sao có sức đi dạo?

- Hết bệnh thì đi dạo! Nhưng thú thiệt, không có bệnh tôi cũng không chào cờ của các ông đâu!

Ông Trịnh Văn Lâu.

Thế là chúng lôi tôi ra đánh đập dã man, giam vô trại biệt giam dành cho người chống chào cờ. Chúng không từ thủ đoạn tra tấn nào, từ “chuồng cọp”, “chuồng bò”. Mùa mưa tưới thêm nước lạnh trên đầu chúng tôi, mùa nắng chúng rải vôi bột. Sau khi “gạn lọc”, có mấy trăm người chống chào cờ. Trước khi tôi vào đây, phong trào đấu tranh của các đồng chí hết sức khốc liệt. Tôi ra Côn Đảo còn hơn 800 người không chào cờ, chịu cấm cố, cực hình. Năm 1971, có lúc chúng bỏ đói. Thực ra chúng gian xảo lắm, bình thường chúng đưa thức ăn vào xà lim, bỗng chúng đổi cách đổ cơm, thức ăn ngoài cửa sổ, để cho anh em tù đói quá thò tay ra bốc. Con người như con thú, chúng tìm cách hạ nhân cách anh em ta. Khi đấu tranh, chúng nói rằng không hề bỏ đói. Trong 2 năm 1971-1972, anh em tuyệt thực hơn 10 đợt, tới 49 ngày. Cuối cùng bọn cai ngục mới chịu thua.

Tái lập Đảng ủy

Chính vì đàn áp dã man, nên hơn 800 anh em tù khó mà tập hợp được. Lúc này có 2 luồng ý kiến chỉ đạo: Một là mềm dẻo, sinh hoạt rỉ tai, không tổ chức chặt chẽ. Bởi người chủ xướng đấu tranh là bị chúng sát hại. Ý kiến thứ hai là củng cố tổ chức Đảng thật mạnh để đấu tranh. Tôi gặp anh Hoàng Như Khương, Trần Trung Lê, Đảng ủy của đảo, mới biết các anh nhận quá ít thông tin, chưa kể thông tin bị nhiễu… từ đó các đồng chí chưa thật sự tin tưởng nhau. Ý kiến của tôi là phải củng cố tổ chức Đảng mạnh, phải sinh hoạt kín. Trong trại tổ chức chi bộ, toàn đảo thành lập Đảng ủy. Kết quả là Đảng ủy được thành lập mang tên Lưu Chí Hiếu. Anh Tư Cao (Trần Văn Cao) làm Bí thư, tôi Phó bí thư phụ trách tuyên huấn.

Ngày 2-5-1973, địch dùng lựu đạn cay bắn vào trại, anh em chống cự quyết liệt, trong đó có 3 người trại 6B và 1 người ở trại 7 bị đánh chết. Chủ trương của địch là: dùng bạo lực khống chế, bắt anh em lăn tay vào hồ sơ tội danh “Gian nhân hiệp đảng” để biến tù chính trị thành “trộm cướp” mà không phải trao trả cho Chính phủ ta.

Sau đợt đấu tranh thắng lợi, chúng cho luân phiên mỗi ngày phơi nắng một phòng. Đấu tranh! Chúng cho 2 phòng… rồi 5 phòng trong ngày. Đó chính là dịp trao đổi thông tin, họp chi bộ. Chúng tôi gọi trại 6B là mở được “vùng giải phóng”.

Tháng 6-1973, anh Tư Cao được trao trả về “đất” (tức đất liền), tôi được cử làm Bí thư Đảng ủy. Lúc này bọn cai ngục hết dám “quậy’ vì có Hiệp định Pa-ri.

Giải phóng Côn Đảo

Đầu năm 1975, tin chiến thắng dồn dập, mở đầu là chiến thắng Phước Long. Chúng tôi may sẵn một lá cờ mặt trận giấu trong nón tai bèo, giao cho anh Đinh Phú Nhàn ở đội trồng, tưới rau giữ. Anh Nhàn bệnh vào trạm xá, nón treo lại ở phòng. Lúc địch xét phòng tôi, phát hiện lá cờ, bắt tôi ký tên vào biên bản. Hai ngày sau văn phòng trại có giấy mời tôi lên lãnh quà do gia đình gởi ra, tôi không chịu đi vì tôi không có ai gởi quà, anh em bảo tôi cứ đi coi sao. Lầm lũi đi giữa nhóm trật tự, vừa bước qua khỏi cửa, tôi nhận ngay các cú đấm, cú đá như trời giáng của trưởng trại và thuộc hạ. Chúng hỏi:

- Ai mua vải đem vào trại.

- Vải trắng có sẵn thiếu gì!

- Tao nói vải đỏ kìa!

- Ờ! Thì lấy thuốc đỏ mà nhuộm. Vải vàng thì lấy kí-ninh…

Đánh đập tôi hơn nửa tiếng, chúng còng tay tôi rồi tống vào xà lim. Mục tiêu của địch là cố khai thác tổ chức lãnh đạo của trại 6B và đường dây liên lạc ra bên ngoài. Hôm sau, chúng đưa tôi lên chuồng bò, một tuần sau thì đưa về công an Côn Đảo, địch tra tấn rất dã man, nhưng tôi bám vào Hiệp định Pa-ri để đấu tranh nên địch phải lùi bước. Từ xà lim trại 7 chúng đưa tôi về nhốt ở trại 2. Khoảng tháng 2-1975, từ hầm đá trại 2 tôi bị đem về nhốt ở khu C trại 7. Từ hầm đá tới xà lim, di chứng của các đòn tra tấn khiến tôi ngã bệnh, không gian và thời gian lúc này với tôi như làn sương mờ ảo, không cảm giác được ngày đêm sáng tối. Chỉ nhớ lại lúc ở hầm đá, tên trật tự có cho tôi ăn cơm, đồ ăn có nửa chén nước thịt kho, vài miếng mỡ heo, vài lát củ cải. Tên ấy bảo tôi: “Đây là bữa cơm Tết đó”.

9 giờ sáng 30-4-1975, một tên trật tự bắt tôi ra phơi nắng, y có gương mặt không dữ dằn, nhưng cái miệng lúc nào cũng quát tháo.

- Đi ra ngoài! Cởi áo ra!

Sau mỗi khẩu lệnh, y cầm roi quất vào cây như đánh tôi vậy. Lẫn trong tiếng roi vun vút là câu nói nhỏ lí nhí đủ để tôi nghe: “Thiệu đổ, Hương lên”; “Hương đổ, Minh lên”. Tới vòng thứ 3 anh ta nói rất nhỏ “Minh đang thương lượng với ta”. Trưa ngày 30-4-1975, cả hai tầng cửa đều khóa chặt chỉ đưa cơm qua cửa gió. Nghiệm lại câu nói của người trật tự, tôi thầm nhủ “Có lẽ thời cơ đã tới” rồi thiếp đi trong mệt mỏi.Hôm đó khoảng 19-20 giờ, anh Nguyễn Văn Sơn, tù chính trị của đảng Đại Việt, linh mục Phạm Gia Thụy và Đại úy Lê Văn Dậu, đại đội trưởng đại đội bảo an của địch tại Côn Đảo vào khu H trại 7 thông báo cho anh Lê Câu (tình báo của ta bị bắt) là Sài Gòn đã giải phóng và mở cửa khám. Từ khu H, anh em thông báo cho toàn trại, khống chế giám thị và trật tự rồi đi mở cửa phòng giam. Khi chốt xà lim được rút ra, tôi chạy ào ra bên ngoài, xúc động làm chân tôi bị cứng đi giữa những tiếng hò reo của anh em. Một giờ sau, tất cả kéo nhau ra nhà bếp trại 7, có đầy đủ đảng viên của trại 6B cũ. Anh em bầu ngay Đảng ủy lâm thời, tôi được tín nhiệm làm Bí thư. Kế tiếp, tôi đề cử anh Hai Tâm (Phan Huy Vân) làm Phó bí thư. Chúng tôi họp ngay tại chỗ để đặt ra nhiệm vụ cấp bách: Thành lập chính quyền lâm thời dưới tên gọi Ủy ban hòa giải hòa hợp dân tộc. Phân công lực lượng khống chế và tước vũ khí các đơn vị vũ trang của địch, của giám thị trật tự, đồng thời mở cửa các trại tù.

Trưa ngày 1-5, Côn Đảo đã thuộc quyền kiểm soát của Chính quyền lâm thời. Buổi chiều, trong cuộc họp Đảng ủy, chúng tôi đổi tên là Ủy ban hòa hợp dân tộc, bỏ chữ hòa giải. Từ đêm 30-4-1975 đến ngày 4-5-1975, tôi cùng đơn vị đã tái lập cuộc sống bình thường và giữ bình yên cho đảo. Ngày 4-5-1975, anh Tám Hà cùng đoàn cán bộ Khu 7 ra tiếp quản, chính thức công nhận Đảng ủy Côn Đảo, thành lập “Đoàn chiến thắng” để tổ chức đưa anh em về đất liền.

Sau giải phóng, Côn Đảo thuộc khu 7 quản lý, ngày 14-5-1975 là ngày đoàn tù chính trị về đất liền. Buổi sáng hôm đó, chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, tôi nôn nao như trẻ con chờ Tết, lòng dạt dào xúc động khi mường tượng đến lúc gặp lại mẹ già và vợ con sau bao năm tù đày. 11 giờ trưa hôm đó, anh Sáu Đức, phó ban tổ chức Khu 9 đi máy bay ra đảo thông báo: Trung ương Cục quyết định giao Khu 9 thay thế Khu 7 để quản lý Côn Đảo và thành lập Tỉnh ủy. Khu ủy chỉ định tôi ở lại, có nhiệm vụ kêu gọi động viên anh em ở lại cùng tôi để quản lý, chờ tới khi Tỉnh ủy từ đất liền ra.

Thật lòng thì tôi chới với, dầu vậy, mệnh lệnh cấp trên thì phải chấp hành. Qua thông báo và kêu gọi của tôi, có 156 anh em xung phong ở lại, trong số này ngoài người của khu 9 là chính còn có khá nhiều anh em ở khu khác. Tình đoàn kết của anh em làm tôi rất ấm lòng. Giữa tháng 7-1975, Tỉnh ủy từ đất liền ra, ngày 15-8-1975, tôi mới được về đất liền.

Sau này tôi mới biết, anh Nguyễn Văn Sơn, có tên thật là Kha, người Quảng Ninh, tôi có ghé nhà thăm anh một lần. Anh là đảng viên Cộng sản, là chiến sĩ tình báo có mật danh là T31, cài vào đảng Đại Việt, làm thư ký của đảng này, tập kết ngược vào Nam. Sau khi Ngô Đình Diệm dẹp các giáo phái, các đảng đối lập thì Trần Kim Tuyến, trùm tình báo nhà Ngô viết thư tay gởi ra đảo: “Moa có thằng em quậy quá, gởi cho toa coi giùm, tạo cho nó có công ăn việc làm”. Cái kiểu ỡm ờ của tên trùm tình báo làm chúa đảo Bạch Văn Bốn cũng ngán. Sau 30-4-1975, anh Sơn về Sài Gòn. Trong nhóm người mở cửa khám giải thoát tù chính trị ngày 30-4-1975 còn có viên trưởng ty thanh niên Côn Đảo.

Tôi có thể khẳng định rằng, Côn Đảo tự giải phóng 4-5 ngày trước khi quân ta từ đất liền ra và có sự giúp sức của 4 nhân vật bên ngoài vừa nêu. Họ kể lại rằng, ngày 29-4-1975, chúa đảo Bạch Văn Bốn đã trốn mất rồi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn