Những ngày cuối cùng ở Thành Cổ Quảng Trị
Đầu tháng 8-1972, Tiểu đoàn 5 của chúng tôi được lệnh tách khỏi đội hình chiến đấu của Trung đoàn 165, bổ sung vào lực lượng bảo vệ thành cổ Quảng Trị, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320B). Khi đó cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở Thị xã và Thành cổ Quảng Trị đang diễn ra rất quyết liệt. Quân địch đã và đang tổ chức những đợt tấn công rất tàn bạo, chúng huy động rất nhiều máy bay, trận địa pháo, của cả quân Mỹ và quân ngụy, ở cả trên đất liền và ngoài biển, bắn không biết bao nhiêu bom đạn, cày nát mảnh đất nhỏ bé ở khu vực Thành cổ. Các lực lượng của ta chiến đấu rất ngoan cường, giữ vững trận địa, nhưng hy sinh mất mát cũng nhiều, cần được thay phiên củng cố, giữ sức chiến đấu lâu dài.
Đêm 13-8 chúng tôi vượt sông Thạch Hãn, vào thay thế cho đơn vị bạn, tiếp cận trận địa ở phía ngoài, hướng đông nam Thành cổ. Phạm vi chiến đấu và bảo vệ của Tiểu đoàn 5 khá rộng, tương đương với diện tích của Thành cổ, kéo dài từ tường thành cho tới khu vực có Quốc lộ 1 chạy qua cho tới giáp bờ sông Thạch Hãn. Thời gian chiến đấu của tiểu đoàn chúng tôi ở khu vực này là 31 ngày đêm. Suốt thời gian ấy, ngày nào cũng diễn ra những trận chiến đấu gay go, gian khổ và khốc liệt. Trong tháng 8, quân số chiến đấu của tiểu đoàn còn khá đầy đủ, đội hình chiến đấu giữ vững, việc thay phiên giữa phía trước và phía sau còn duy trì được. Tuy nhiên, do địch tấn công nhiều và hỏa lực của chúng rất mạnh nên thương vong của bộ đội ta cũng rất lớn. Sau nửa tháng chiến đấu quân số của tiểu đoàn chỉ còn chưa đến một nửa so với khi mới vào thành. Đầu tháng 9 tiểu đoàn được bổ sung 52 tân binh nhưng đến ngày 6-9, quân số còn lại của cả tiểu đoàn cũng chỉ khoảng 80 người. Nói "khoảng" bởi lúc đó nói ra quân số chính xác là rất khó, nó thay đổi từng giờ, thậm chí từng phút. Cán bộ tiểu đoàn còn lại hai người là tôi-Chính trị viên phó và anh Trần Văn Măng, Tiểu đoàn trưởng. Cán bộ đại đội có Đại đội trưởng Đại đội 6 Nguyễn Văn Dặn và Đại đội trưởng Đại đội 7 Trần Văn Truyền. Không còn cán bộ trung đội nào được bổ nhiệm chính thức, mỗi đại đội có một đồng chí được chỉ định phụ trách trung đội trưởng.
Tình thế ấy buộc chúng tôi phải nâng đội hình chiến đấu lên phía trước, giáp với quân địch. Tôi và anh Măng vẫn ở nguyên vị trí cũ của sở chỉ huy tiểu đoàn, chỉ có thay đổi là trước ngày 6-9 nó là sở chỉ huy phía trước, còn bấy giờ là sở chỉ huy duy nhất trong mọi thời gian. Nói như thế “cho sang” chứ thực tế lúc đó chúng tôi không còn và cũng không cần đến sở chỉ huy. Hệ thống đường dây thông tin hữu tuyến đã bị pháo địch bắn nát, các chiến sĩ thông tin cũng đã thương vong hết, thông tin vô tuyến không còn hoạt động được. Hằng ngày, sự liên lạc giữa tiểu đoàn với các đại đội được thực hiện thông qua các chiến sĩ trinh sát truyền đạt nhưng nhiều khi tôi và anh Măng phải trực tiếp đến từng đại đội, thậm chí là từng hầm để nghe báo cáo hoặc phổ biến kế hoạch chiến đấu.
Từ khi đưa đội hình lên hết phía trước, chúng tôi không còn bị pháo địch bắn, càng không bị máy bay địch ném bom, vì nếu bắn vào chúng tôi bom đạn sẽ rất dễ đi lạc sang đội hình của chúng. Lực lượng của ta và của địch lúc này đã rất gần nhau, chỉ cách nhau một khoảng đất trống hoặc vài căn nhà đổ. Thương vong của bộ đội ở giai đoạn này chủ yếu là do súng cối, đạn M79, lựu đạn và súng bắn thẳng của bọn lính thuộc sư đoàn thủy quân lục chiến ngụy gây ra. Tỷ lệ thương vong của bộ đội giảm khá nhiều so với trước. Đây là một nghịch lý nhưng lại là một thực tế. Anh Măng và tôi đều đã nhận thấy điều này. Chúng tôi thông báo để bộ đội biết coi trọng việc bám sát đội hình địch. Tuy nhiên, sự căng thẳng trong việc cảnh giác, sẵn sàng đánh trả, ngăn chặn bộ binh địch tiến công lấn chiếm lại tăng lên. Ngày nào chúng cũng tổ chức tiến công, thông thường là hai lần, nhưng cũng có hôm chúng tiến công ba, bốn lần với các quy mô khác nhau.
Nhận thấy nếu để tình trạng này kéo dài bộ đội sẽ không thể giữ được sức khỏe và sự tỉnh táo để chiến đấu lâu dài, chúng tôi bàn ngay cách bố trí lại hầm hào chiến đấu, cho rút bớt số lượng hầm và tăng số người ở từng hầm lên. Như vậy trong mỗi hầm lúc nào cũng có hai người trực chiến ở hai hố chiến đấu hai bên, còn một người được nghỉ, ngủ giữa hầm. Vị trí nằm để ngủ nghỉ của từng hầm cũng phải thay nhau sửa chữa nâng cao lên, tránh để ngập nước. Cách nâng cao chỗ nằm phổ biến nhất mà mọi người đều thực hiện là kiếm gạch vỡ, gỗ vụn trong các ngôi nhà trong thị xã để xếp xuống dưới hầm. Sau đó trải áo mưa và võng bạt lên, nằm xuống, đỡ ẩm ướt mà vẫn êm.
Mùa mưa đã đến, cứ sau mỗi trận mưa, nước lại tràn vào lưng hầm, nếu không múc ra nhanh có khi còn ngập hầm. Vì thế, mỗi hầm đều phải cử người đi vào các đống đổ nát để kiếm cái gì đó có thể múc được nước. Nhờ có chuẩn bị chu đáo vị trí chiến đấu và ngủ nghỉ nên dù chiến đấu liên tục nhiều ngày bộ đội vẫn khỏe mạnh, tỉnh táo, diệt được nhiều địch, giữ vững trận địa. Mỗi ngày, chúng tôi vẫn kiên cường đối mặt với từng đợt tấn công uy hiếp của địch, giành giật từng mét đất Thành cổ.
Trong chiến đấu, thông thường thì tỷ lệ thương vong của chiến sĩ cao hơn so với cán bộ, nhưng ở Tiểu đoàn 5 chúng tôi, trong thời gian chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, tỷ lệ thương vong của cán bộ lại cao hơn. Điều này cũng dễ hiểu, bởi tất cả các điều kiện và yếu tố dẫn đến thương vong, như hầm trú ẩn, mật độ bom đạn của địch… là như nhau, nhưng cán bộ phải đi lại, vận động nhiều hơn. May mắn cho tiểu đoàn tôi lúc bấy giờ, tuy số lượng cán bộ còn ít nhưng đều là những người gương mẫu, dũng cảm và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu. Tại chiến trường Quảng Trị, tôi và anh Măng đã hiệp đồng chỉ huy rất tốt. Anh rất bình tĩnh để xử lý các tình huống chiến đấu, nhanh nhẹn, dũng cảm trong hành động và cũng sâu sát gần gũi bộ đội. Khi cán bộ tiểu đoàn chỉ còn có anh và tôi ở trận địa, việc gì anh cũng trao đổi với tôi. Hàng ngày, mỗi khi có việc cần trao đổi anh thường vẫy tôi sang hầm anh nhưng nhiều lúc anh cũng chủ động sang hầm tôi. Sự thân thiết, gắn bó giữa tôi và anh Măng có lẽ cũng có tác động tích cực đến sự đoàn kết chung, để tiểu đoàn chúng tôi cùng nhau vượt qua những ngày cuối cùng đầy gian khổ và ác liệt ở khu vực Thành cổ Quảng Trị.
Người nhiều tuổi quân, tuổi đời thứ hai trong số bốn cán bộ của tiểu đoàn tôi còn trụ lại được đến tuần cuối cùng ở Thành cổ Quảng Trị là anh Trần Văn Truyền. Anh Truyền sinh năm 1943, nhập ngũ năm 1962, quê ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tôi biết anh Truyền từ đầu năm 1967, vì khi tôi nhập ngũ thì anh đang làm Quản lý của Tiểu đoàn 4. Sau này do yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường, anh Truyền được bổ nhiệm làm Đại đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 4, đầu năm 1972 lại được điều động và bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 7, Tiểu đoàn 5. Anh Truyền là người hiền lành, ít nói, rất sâu sát, tỉ mỉ và cũng rất nghiêm khắc. Tôi biết khi anh mới về Đại đội 7, nhiều người không thích anh nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, sự gương mẫu và dũng cảm của anh đã thuyết phục được họ, cả đại đội đều yêu mến, tin tưởng người đại đội trưởng của mình. Đến Đại đội 7, lần nào tôi cũng thấy anh Truyền đang hướng dẫn cho chiến sĩ các hoạt động chiến đấu, lúc hướng dẫn cách vận động trên mặt đất thế nào cho an toàn, lúc khác lại là hướng dẫn việc dùng súng AK để bắn tỉa quân địch. Cả tôi và anh Măng luôn cảm thấy yên tâm về tinh thần cảnh giác và quyết tâm chiến đấu của Đại đội 7, dưới sự chỉ huy của anh Truyền.



