Những ngày đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam của Đại tướng Lê Đức Anh
Ngày 13/8/1963, đồng chí Lê Đức Anh được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuối tháng 12/1963, nhận nhiệm vụ cấp trên giao, đồng chí Lê Đức Anh bí mật hành quân vào chiến trường miền Nam trên con tàu “Không số”, mang theo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ Nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng về xây dựng lực lượng cách mạng và hoạt động vũ trang.
Đồng thời, đồng chí Lê Đức Anh đã cùng cơ quan Tham mưu tích cực tiến hành công tác chuẩn bị cho chiến dịch tiến công Bình Giã. Trong hơn một tháng chiến đấu tiến công (từ đêm 02/12/1964 đến ngày 03/01/1965), Chiến dịch Bình Giã đã giành thắng lợi to lớn: Giải phóng gần 2 vạn dân huyện Hoài Đức, vùng căn cứ được củng cố và mở rộng bảo đảm cho việc tiếp nhận trang bị vũ khí của Trung ương từ miền Bắc chi viện bằng đường biển vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trên hướng phối hợp, Quân khu 7 tổ chức các trận đánh phục kích giao thông ở Long Thành - Nhơn Trạch, Tỉnh ủy Biên Hòa và Bà Rịa tổ chức ba mũi giáp công vây đồn, lùng diệt ác ôn, làm chủ xã, ấp cũng giành nhiều thắng lợi. Trận Bình Giã đã đánh dấu sự thất bại cơ bản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"4 của Mỹ và tay sai. Chiến thắng này chứng tỏ rằng ta có khả năng xây dựng những đơn vị chủ lực lớn tại chỗ, phát triển lên xây dựng Sư đoàn 5 để có thể đánh lớn, thắng lớn, và chủ lực ta hoàn toàn có khả năng tiêu diệt được chủ lực địch.
Bước vào mùa khô năm 1966 - 1967, Mỹ và tay sai mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, mà đỉnh cao là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu (phía Bắc tỉnh Tây Ninh) nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và chủ lực của ta, bịt chặt biên giới Việt Nam – Campuchia, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn. Bộ Chỉ huy Miền giao cho đồng chí Lê Đức Anh nhiệm vụ tổ chức lực lượng đánh địch tại chỗ.
Để vừa bảo toàn lực lượng, bám trụ trên địa bàn tác chiến không có dân, vừa đánh tiêu hao, tiêu diệt địch, đồng chí Lê Đức Anh đã chỉ đạo các cơ quan xác định phương châm tác chiến là tổ chức các "ấp, xã chiến đấu", bám trụ đánh địch tại chỗ, giữ chắc các ấp, xã chiến đấu. Nơi địch không đến thì bung ra tìm địch mà đánh, bám địch mà diệt, thực hiện tiêu hao địch rộng rãi, vừa chiến đấu vừa bảo đảm phục vụ chiến đấu, bảo vệ an toàn cơ quan và kho tàng, duy trì cuộc sống và sinh hoạt bình thường trong căn cứ để đánh lâu dài với địch. Chỉ Trung đoàn 3 thực hiện phân tán lực lượng, còn hai trung đoàn ở ngoài phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa lực lượng trong và ngoài căn cứ. Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Chỉ huy Miền do đồng chí Lê Đức Anh phụ trách đặt vị trí cơ động từ Sóc Ôm, Móc Câu đến Cầu Bà Chiêm.
Sau gần hai tháng chiến đấu (ngày 22/02/1967 – ngày 15/4/1967), ta đã loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 tên và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến, đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ - ngụy. Nói về nghệ thuật chiến dịch, đề xuất của đồng chí Lê Đức Anh trong chiến dịch này chính là đã tạo ra “thế trận chiến tranh nhân dân trên một địa bàn không có dân” để đánh địch. Thực tiễn, phương pháp tác chiến này đã phát huy hiệu quả và giành thắng lợi to lớn.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), đồng chí được phân công chỉ huy bộ đội ở hướng Tây Sài Gòn, từ Long An đánh vào Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát Đô thành. Trước Tổng tiến công, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền tổ chức bố trí chiến trường, thành lập khu trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, có hai “Bộ Chỉ huy tiền phương" (tức Sài Gòn và vùng phụ cận). Đồng chí Trần Văn Trà và đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách Tiền phương Bắc, còn gọi là Tiền phương I. Đồng chí Võ Văn Kiệt phụ trách Tiền phương Nam, còn gọi là Tiền phương II.
Khi đánh vào Sài Gòn, đồng chí Lê Đức Anh đã đề xuất không nên mở đợt 2 đánh vào nội đô nữa, vì không còn yếu tố bí mật, bất ngờ; đợt 2 có mở thì nên đánh ra vùng ven đô và phụ cận. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thấu đáo tình hình, đồng chí đã có những đề xuất quan trọng về chuyển hướng tiến công. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã có ý nghĩa quan trọng, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.
Đầu năm 1969, đồng chí Lê Đức Anh được cấp trên giao nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 9. Đồng chí Lê Đức Anh (bí danh Chín Hòa) cùng đồng chí Võ Văn Kiệt (bí danh Tám Thuận) đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức củng cố lực lượng, khôi phục lại thế và lực của Quân khu 9, liên tiếp nổ súng tiến công, đẩy lùi quân địch vào sát thị xã, thị trấn, bước đầu đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Năm 1974, được giao đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, đồng chí Lê Đức Anh đã khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến mùa khô 1974 - 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí đảm nhiệm Phó Tư lệnh Chiến dịch kiêm Tư lệnh cánh quân tiến công trên hướng Tây - Tây Nam đánh vào Sài Gòn.
Với những thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1964 - 1974, ngày 16/4/1974, đồng chí Lê Đức Anh được Chủ tịch nước ký quyết định phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.
Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng trận mạc, một nhà chỉ huy xuất sắc, vị tướng mà bộ quân phục thấm đẫm khói lửa chiến tranh. Đồng chí đã từng chỉ huy bộ đội tham gia những trận đánh, những chiến dịch quan trọng, những sự kiện mang tính bước ngoặt của chiến tranhđúng như lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã viết về đồng chí Lê Đức Anh: “Ngần ấy thời gian biết anh Sáu Nam, có lúc cùng chiến trường, có lúc cùng ở cấp lãnh đạo đất nước, Anh là cán bộ tham mưu tầm cỡ, một vị tướng chỉ huy cương nghị, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm” [2]./.



