Cựu chiến binh

Những ngày đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam của Đại tướng Lê Đức Anh

Những ngày đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam của Đại tướng Lê Đức Anh

Huế15/08/2026Trinh Thông (Bắc Ruộng)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 13/8/1963, đồng chí Lê Đức Anh được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuối tháng 12/1963, nhận nhiệm vụ cấp trên giao, đồng chí Lê Đức Anh bí mật hành quân vào chiến trường miền Nam trên con tàu “Không số”, mang theo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ Nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng về xây dựng lực lượng cách mạng và hoạt động vũ trang.

Trong hồi ký của mình, Đại tướng Lê Đức Anh nhớ lại: “…Cùng đi với tôi có anh Trần Minh Tâm quê ở xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang... Tối hôm đó, hai chúng tôi xuống con tàu “Không số”, lặng lẽ rời bến Đồ Sơn, Hải Phòng, ra hải phận quốc tế, rồi hướng thẳng về phương Nam. Trên tàu, ngoài hai cán bộ miền Nam chúng tôi và đội thủy thủ của Đoàn 125 Hải quân Việt Nam còn có những hòm súng, đạn chở vào miền Nam và khối thuốc nổ TNT, phòng khi gặp tình huống tàu địch phát hiện và vây bắt thì sẽ cho nổ tàu, kiên quyết không để người và vũ khí rơi vào tay giặc”.[1]

Những ngày đầu trở lại chiến trường miền Nam, tại Bộ Chỉ huy Miền, với cương vị Tham Mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam, đồng chí Lê Đức Anh đã có nhiều đề xuất quan trọng và trực tiếp soạn thảo, triển khai kế hoạch xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang. Trên cơ sở phát triển dân quân du kích ở cơ sở, Bộ Chỉ huy Miền từng bước xây dựng lực lượng bộ đội địa phương và chủ lực. Miền Đông Nam Bộ từng bước được xây dựng thành một chiến trường tiến công tiêu diệt địch. Đến cuối năm 1964, việc xây dựng lực lượng đã hình thành. Nhiều vùng trắng trước đây quân địch thả sức tung hoành hành quân càn quét, bắn giết đồng bào ta, nay cơ sở và lực lượng vũ trang cách mạng đã được xây dựng và bắt đầu hoạt động có hiệu quả.



Phó Tư lệnh - Tham Mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Lê Đức Anh tại Bộ Tư lệnh Miền - khu căn cứ Tà Thiết, năm 1966. Ảnh tư liệu.

Đồng thời, đồng chí Lê Đức Anh đã cùng cơ quan Tham mưu tích cực tiến hành công tác chuẩn bị cho chiến dịch tiến công Bình Giã. Trong hơn một tháng chiến đấu tiến công (từ đêm 02/12/1964 đến ngày 03/01/1965), Chiến dịch Bình Giã đã giành thắng lợi to lớn: Giải phóng gần 2 vạn dân huyện Hoài Đức, vùng căn cứ được củng cố và mở rộng bảo đảm cho việc tiếp nhận trang bị vũ khí của Trung ương từ miền Bắc chi viện bằng đường biển vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trên hướng phối hợp, Quân khu 7 tổ chức các trận đánh phục kích giao thông ở Long Thành - Nhơn Trạch, Tỉnh ủy Biên Hòa và Bà Rịa tổ chức ba mũi giáp công vây đồn, lùng diệt ác ôn, làm chủ xã, ấp cũng giành nhiều thắng lợi. Trận Bình Giã đã đánh dấu sự thất bại cơ bản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"4 của Mỹ và tay sai. Chiến thắng này chứng tỏ rằng ta có khả năng xây dựng những đơn vị chủ lực lớn tại chỗ, phát triển lên xây dựng Sư đoàn 5 để có thể đánh lớn, thắng lớn, và chủ lực ta hoàn toàn có khả năng tiêu diệt được chủ lực địch.

Bước vào mùa khô năm 1966 - 1967, Mỹ và tay sai mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, mà đỉnh cao là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu (phía Bắc tỉnh Tây Ninh) nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và chủ lực của ta, bịt chặt biên giới Việt Nam – Campuchia, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn. Bộ Chỉ huy Miền giao cho đồng chí Lê Đức Anh nhiệm vụ tổ chức lực lượng đánh địch tại chỗ.

Để vừa bảo toàn lực lượng, bám trụ trên địa bàn tác chiến không có dân, vừa đánh tiêu hao, tiêu diệt địch, đồng chí Lê Đức Anh đã chỉ đạo các cơ quan xác định phương châm tác chiến là tổ chức các "ấp, xã chiến đấu", bám trụ đánh địch tại chỗ, giữ chắc các ấp, xã chiến đấu. Nơi địch không đến thì bung ra tìm địch mà đánh, bám địch mà diệt, thực hiện tiêu hao địch rộng rãi, vừa chiến đấu vừa bảo đảm phục vụ chiến đấu, bảo vệ an toàn cơ quan và kho tàng, duy trì cuộc sống và sinh hoạt bình thường trong căn cứ để đánh lâu dài với địch. Chỉ Trung đoàn 3 thực hiện phân tán lực lượng, còn hai trung đoàn ở ngoài phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa lực lượng trong và ngoài căn cứ. Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Chỉ huy Miền do đồng chí Lê Đức Anh phụ trách đặt vị trí cơ động từ Sóc Ôm, Móc Câu đến Cầu Bà Chiêm.

Sau gần hai tháng chiến đấu (ngày 22/02/1967 – ngày 15/4/1967), ta đã loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 tên và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến, đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ - ngụy. Nói về nghệ thuật chiến dịch, đề xuất của đồng chí Lê Đức Anh trong chiến dịch này chính là đã tạo ra “thế trận chiến tranh nhân dân trên một địa bàn không có dân” để đánh địch. Thực tiễn, phương pháp tác chiến này đã phát huy hiệu quả và giành thắng lợi to lớn.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), đồng chí được phân công chỉ huy bộ đội ở hướng Tây Sài Gòn, từ Long An đánh vào Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát Đô thành. Trước Tổng tiến công, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền tổ chức bố trí chiến trường, thành lập khu trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, có hai “Bộ Chỉ huy tiền phương" (tức Sài Gòn và vùng phụ cận). Đồng chí Trần Văn Trà và đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách Tiền phương Bắc, còn gọi là Tiền phương I. Đồng chí Võ Văn Kiệt phụ trách Tiền phương Nam, còn gọi là Tiền phương II.



Trung tướng Lê Đức Anh, Tư Lệnh Quân khu 9, nguyên Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (ngoài cùng bên phải hàng đứng) dự Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh tại Đà Lạt năm 1975. Ảnh tư liệu.

Khi đánh vào Sài Gòn, đồng chí Lê Đức Anh đã đề xuất không nên mở đợt 2 đánh vào nội đô nữa, vì không còn yếu tố bí mật, bất ngờ; đợt 2 có mở thì nên đánh ra vùng ven đô và phụ cận. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thấu đáo tình hình, đồng chí đã có những đề xuất quan trọng về chuyển hướng tiến công. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã có ý nghĩa quan trọng, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh.

Đầu năm 1969, đồng chí Lê Đức Anh được cấp trên giao nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 9. Đồng chí Lê Đức Anh (bí danh Chín Hòa) cùng đồng chí Võ Văn Kiệt (bí danh Tám Thuận) đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức củng cố lực lượng, khôi phục lại thế và lực của Quân khu 9, liên tiếp nổ súng tiến công, đẩy lùi quân địch vào sát thị xã, thị trấn, bước đầu đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Năm 1974, được giao đảm nhiệm cương vị Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, đồng chí Lê Đức Anh đã khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến mùa khô 1974 - 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí đảm nhiệm Phó Tư lệnh Chiến dịch kiêm Tư lệnh cánh quân tiến công trên hướng Tây - Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

Với những thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1964 - 1974, ngày 16/4/1974, đồng chí Lê Đức Anh được Chủ tịch nước ký quyết định phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng.

Đại tướng Lê Đức Anh là một vị tướng trận mạc, một nhà chỉ huy xuất sắc, vị tướng mà bộ quân phục thấm đẫm khói lửa chiến tranh. Đồng chí đã từng chỉ huy bộ đội tham gia những trận đánh, những chiến dịch quan trọng, những sự kiện mang tính bước ngoặt của chiến tranhđúng như lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã viết về đồng chí Lê Đức Anh: “Ngần ấy thời gian biết anh Sáu Nam, có lúc cùng chiến trường, có lúc cùng ở cấp lãnh đạo đất nước, Anh là cán bộ tham mưu tầm cỡ, một vị tướng chỉ huy cương nghị, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm” [2]./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn