NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN
Đầu tháng 10 năm 1947, giặc Pháp mở cuộc hành quân quy mô lớn tiến công căn cứ địa Việt Bắc; ngày 7 tháng 10 nhảy dù xuống Bắc Cạn, chợ Mới; ngày 9 tháng 10 nhảy tiếp xuống chợ Đồn, Cao Bằng hòng tiêu diệt cơ quan đầu não chỉ đạo cuộc kháng chiến, tiêu diệt lực lượng vũ trang chủ lực của ta, phá hoại các kho tàng vật chất, kỹ thuật, làm lung lạc tinh thần kháng chiến của nhân dân. Đồng thời ngày 10 tháng 10, địch hành quân bằng đường thuỷ với 4 chiếc tàu chiến LCT, LCM, LCVP và ca-nô tiến theo s

Tỉnh Yên Bái bị uy hiếp từ nhiều phía - từ phía Tuyên Quang, Việt Bắc sang, từ phía đường sông Việt Trì, Phú Thọ lên, đồng thời từ phía Sơn La bị giặc ép tràn sang, từ phía Lào Cai, Than Uyên tràn xuống.
Tình hình lúc này thật sự là một cuộc thử thách quyết liệt đối với sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Yên Bái và sự chỉ đạo của các Huyện uỷ và cơ sở. Ngày 15 tháng 10 năm 1947, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Phá tan cuộc tấn công Thu Đông của giặc Pháp” do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Trung ương Đảng ký - các cấp uỷ Đảng đã quán triệt chỉ thị trên của Trung ương, huy động nhân dân phối hợp với bộ đội chiến đấu...
Ở mặt trận Yên Bái, Tây Bắc đầu tháng 10 năm 1947, địch tập trung lực luợng từ Quang Huy (Phù Yên) qua Mường Cơi đánh sang Thượng Bằng La (Văn Chấn), khi đến Đèo Đao, bị tiểu đoàn chủ lực đồng chí Thắng chặn đánh quyết liệt, phải co về Phù Yên. chỉ có một bộ phận thoát qua Thôn Cao (xã Chấn Thịnh), sang Đại Lịch (Gò Đôi) nhưng bị bộ đội ta (đại đội đổng chí Toản) và du kích Đại Lịch (đồng chí Minh Lưu chỉ huy) đánh bật ra, chúng phải kéo ra Vần, Dọc.
Đến ngày 8 tháng 10, địch tập trung lực lượng qua đường Đá Xô, đánh chiếm Ba Khe, tiến ra Thiến, Khánh Môn (Trấn Yên), cách Âu Lâu 6km và 1 mũi quặt vào Cửa Nhì, vào chiếm Nghĩa Lộ. Mũi thứ hai từ Ngọc Chiến (Sơn La) qua Than Uyên vào chiếm Tú Lệ, Gia Hội. Toán này đến Giàng Ngâu bị bộ đội ta chặn đánh, tuy bị thiệt hại một số, chúng vẫn xuống được Nghĩa Lộ...
Ở Văn Bàn, địch chiếm Minh Lương, Dương Quỳ, các Làng Mạ, Làng Cóc.
Như vậy ở Yên Bái: Than Uyên hoàn toàn bị địch chiếm; Văn Bàn hầu hết các xã bị chiếm đóng; Lục Yên một số xã giáp Lào Cai bị uy hiếp. Sau khi địch chiếm Bát Xát (15/10), Sa Pa (17/10) và thị xã Lào Cai (28/10) và tràn ra Phố Lu xuống Phố Ràng. Cuối tháng 10 năm 1947 cơ quan Tỉnh uỷ Lào Cai rút xuống Lục Yên.
Riêng ở Văn Chấn, địch đã tràn ra hầu hết các xã trong huyện. Nhưng ở 6 xã vùng ngoài huyện Văn Chấn, nhờ có sự chuẩn bị tốt về tư tưởng và kế hoạch phòng đánh địch, bộ phận chỉ đạo của huyện lúc đó đồng chí Bá Lạc, đồng chí Toàn Hồng cùng với đồng chí Duy Sinh đã cùng với Chi bộ, Uỷ ban và xã đội các xã đều bám đất, bám dân hoạt động. Lại có lực lượng bộ đội chủ lực của tiểu đoàn đồng chí Thắng, trong đó có đại đội đồng chí Toản và đại đội đồng chí Tiến Vinh phối hợp với lực lượng du kích các xã Thượng Bằng La, Chấn Thịnh, Đại Lịch (huyện Vãn Chấn), du kích xã Hưng Khánh (huyện Trấn Yên) chặn đánh quyết liệt. Nhân dân các thôn, xã đã chủ động làm vườn không nhà trống, triệt để thu hoạch mùa và cất giấu lương thực, kịp thời sơ tán người và gia súc, nên địch chỉ đóng đồn được ở Ba Khe, Làng Bữu (Thượng Bằng La), Đồng Bồ (Chấn Thịnh) thuộc huyện Văn Chấn, Dọc, Thiến, Ca Vịnh và Khánh Môn thuộc huyện Trấn Yên.
Ở vùng Tam tổng Nghĩa Lộ, khi địch tràn vào Nghĩa Lộ, để bảo toàn lực lượng, tiểu đoàn chủ lực đổng chí Đức Khánh đã rút qua đường Mảm, có cả bộ phận thường trực của huyện (đồng chí Nguyễn Giang), đồng chí Tư Lan (thường trực Tỉnh uỷ vào kiểm tra), ông Cầm Ngọc Lương, Chủ tịch Uỷ ban huyện cùng với cán bộ và nhiều bà con ở thị trấn Nghĩa Lộ. Địch đã truy đuổi đến tận Mảm, bắt đồng chí Nguyễn Đăng Kỳ và gia đình ông, bà Phó Khoáy, vợ đồng chí Lê Khoa (mới ở Hà Nội lên thăm chồng)... và ngày 14 tháng 10 năm 1947, chúng đã bắn chết đồng chí Kỳ và ông Phó Khoáy, bắt ông Cầm Ngọc Lương và một số bà con trở lại thị trấn Nghĩa Lộ (sau này chị Lê Khoa nhận làm con nuôi và ra Cửa Nhì ở với cụ Châu Huởng, đau buồn và bị bệnh ốm chết tại Cửa Nhì) - Đây là tổn thất đầu tiên của nhân dân thị trấn Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn. Đồng chí Nguyễn Đăng Kỳ (tức Cả Nho) là một trong những đồng chí hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa, đã có công vận động tiếp tế giúp đỡ các đồng chí tù chính trị ở Căng Nghĩa Lộ, tích cực hoạt động cách mạng trước khởi nghĩa, tham gia khởi nghĩa giải phóng Nghĩa Lộ ngày 8/7/1945, là uỷ viên kinh tế của Uỷ ban cách mạng lâm thời huyện Văn Chấn, sau đó đã hoạt động kinh tế cho Tỉnh bộ Việt Minh Yên Bái.
Trước những biến chuyển nhanh chóng của tình hình chiến sự, Tỉnh uỷ Yên Bái đã nhanh chóng tăng cường lực lượng vũ trang phòng đánh địch vượt sông sang thị xã và tả ngạn sông Hồng, đồng thời triệu tập cán bộ ở các huyện lúc đó chạy ra vùng ngoài, phải quay trở về địa phương, vùng địch tạm chiếm, nắm dân, củng cố lại cơ sở, vận động nhân dân đấu tranh chống địch bắt phu, bắt lính, bắt nộp tiếp tế đồng thời khẩn trương xây dựng các căn cứ du kích kháng chiến, thành lập các đội tuyên truyền xung phong và các đại đội độc lập đi sâu vào lòng địch tạm chiếm.
Từ đầu tháng 8/1947 đến ngày 6 tháng 10 năm 1947, tôi được Tỉnh uỷ cử đi dự lớp của Trung ương mở tại một điểm căn cứ ở Thái Nguyên, bồi dưỡng cán bộ giảng viên cho cấp tỉnh. Lớp học phải bế mạc sớm vì giặc Pháp nhảy dù và tấn công Việt Bắc. Ngày 10/10/1947 về tới thị xã Yên Bái, tôi rất ngỡ ngàng thấy đường phố vắng người đi lại. Qua đường sắt ở chân Gò Chùa vào thị xã, thấy chắn rào “ba-ri-e”, có người gác, người qua lại hỏi giấy - chỉ đường. Tôi hỏi thăm, mới biết tin giặc Pháp đã vào chiếm Nghĩa Lộ và tiến ra bờ sông, đóng đồn ở cây số 6. Cảm xúc lúc đó bàng hoàng, lo lắng, tôi vượt qua đường sắt về nhà ở nơi sơ tán...
Về nhà được hơn một ngày, ngày 12 tháng 10 năm 1947, đồng chí Nguyễn Chấn, Bí thư Tỉnh uỷ đã triệu tập tôi lên trụ sở Tỉnh uỷ lúc đó đóng ở nhà bà Cầu, xã Nga Quán (có cả đồng chí Nguyễn Bá Lạc dự) để phổ biến tình hình chiến sự và giao nhiệm vụ trở lại Văn Chấn, lúc này địch đã tạm chiếm.
Chúng tôi đã họp cán bộ, chia làm 2 tốp, hướng tiến qua đường Phong Dụ - Đá Đen vào Nghĩa Lộ. Anh Lạc đã kể lại: trước khi địch vào chiếm Văn Chấn, Huyện uỷ đã bàn và phân công đổng chí Nguyễn Giang thường trực ở vùng trong, còn đồng chí Lạc và đồng chí Toàn Hồng ra các xã vùng ngoài kiểm tra đôn đốc cùng với đồng chí Duy Sinh. Tỉnh uỷ Yên Bái cũng đã phân công đồng chí Tư Lan vào Nghĩa Lộ kiểm tra, lại cử đồng chí Phan Đạo Xích vào Vần gặp đổng chí Lạc, đồng chí Duy Sinh để truyền đạt chủ trương của Tỉnh uỷ. Đồng chí Duy Sinh còn gặp đồng chí Trần Quyết, Bí thư Tỉnh uỷ Sơn La từ Phù Yên chạy qua cho biết tình hình địch và dặn dò công việc chuẩn bị đánh địch. Đồng thời đồng chí Nguyễn Chấn, Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái đã vào trực tiếp kiểm tra ở xã Đại Lịch cùng với đồng chí Nguyễn Đăng Long và đã chỉ thị cho Chi bộ và Uỷ ban kháng chiến xã Đại Lịch thực hiện khẩn trương các nhiệm vụ chuẩn bị kháng chiến, sơ tán dân, đưa một số chức việc cũ ra vùng tự do, thực hiện vườn không nhà trống, chỉ đạo du kích phối hợp với bộ đội chủ lực kiên quyết đánh địch. Đồng chí còn chỉ thị cho Uỷ ban xã Đại Lịch khẩn trương chuyển kho muối ra vùng ngoài.
Nhờ sự chuẩn bị tốt từ trước cả về tư tưởng và tổ chức, nên các xã vùng ngoài đều vững vàng và sẵn sàng đi vào cuộc chiến đấu.
Tôi còn nhớ mãi câu chuyện vui anh Lạc kể trong khi địch tràn ra anh Bá Lạc đến Dọc, vào nhà ông Đạo Xuyến, cháu cụ Chánh Khánh nghỉ chân, nghe tiếng chân chạy từ trên gò xuống “lộp bộp” ngày càng nhiều, càng rõ. Cả nhà nháo nhác chạy ra khỏi nhà thì lại nghe thấy tiếng la thét: “Bò đấy. Tưởng là địch về. Du kích hô: “Bò xuống”. Thế là cả nhà vừa bò xổm, tháo chạy ra ven rừng. Té ra dân dồn bò sơ tán phòng địch tới.
Anh Bá Lạc nói vui, từ ngày lên Văn Chấn - Yên Bái chưa đầy năm đã chứng kiến hai sự lạ: một là ở Ngòi Thia, nam nữ đi cắm chông phòng chống địch nhảy dù, được xem “thuỷ phi cơ miền núi” lội nước: hai là giặc về, dân dồn bò sơ tán, tưởng là địch đuổi tới nơi, phải chạy bò sát đất, bở cả hơi tai. Đấy là kỷ niệm buổi đầu cuộc chiến tranh mà lớp trẻ chúng tôi lúc bấy giờ còn nhớ mãi.
Thế rồi, cán bộ chúng tôi lại sẵn sàng lên đường vào vùng địch tạm chiếm, thật vô tư và đầy trách nhiệm. Anh nào có gia đình thu xếp tạm ở vùng tự do nhờ bà con trông nom và giúp đỡ rồi nhẹ nhàng ra đi...
Tốp đổng chí Lạc đi trước. Trên đường đi Phong Dụ - Đá Đen thì gặp địch phải quay lại. Tốp sau đồng chí Doãn chuẩn bị đi thì đồng chí Duy Sinh cán bộ phụ trách vùng ngoài, Bí thư chi bộ xã Đại Lịch đã cử 3 đồng chí Hoàng Minh Lưu, Nguyễn Văn Nhàn, Nguyễn Văn Thường (chi bộ xã Đại Lịch) ra đón. Tốp anh Bá Lạc vào trước ở Khe Liền. Tốp của tôi qua đường Đồng Phú, núi Nả vào tới thôn Lường (Đại Lịch) trú ở lán sơ tán ông Đô, có con là Quang xã đội trưởng và tổ du kích xã bảo vệ (sau này đồng chí Quang đi chiến đấu rất dũng cảm và bị hy sinh).
Nhớ lại hơn một năm về trước, tháng 11 và tháng 12 năm 1945, tôi đã cùng với đồng chí Chu Văn Sách về Đại Lịch. Sau lớp bồi dưỡng ngắn ngày của Tỉnh bộ Việt Minh mở, đồng chí Ngô Minh Loan, Bí thư đã cử chúng tôi về Tổng Lương Ca và Đại Lịch xây dựng, củng cố các đoàn thể cứu quốc và xã bộ Việt Minh. Sau khởi nghĩa, khí thế cách mạng của quần chúng sôi nổi là thế, từ Khe Liền, Khe Tú, Khe Mơ, Đồng Mè đến thôn Lường, nam nữ thanh niên, cán bộ trung niên và bô lão đều hào hứng đổ ra Thanh Bồng họp hành, học tập. Đây là nơi có trường học cấp “sơ học yếu lược” mà trước khởi nghĩa ông giáo Thành Tâm đã từng dạy ở đây, bà con đều nhắc tới. Lớp lớp cán bộ nam nữ thanh niên, thiếu niên, nông dân, phụ nữ đã hăng hái tham gia mọi hoạt động. Đội ngũ cán bộ cơ sở đã trưởng thành, trở thành “hạt giống đỏ”. Lớp Đảng viên tháng 8 năm 1947, đều tin tưởng và vững vàng xác định trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, quyết tâm chiến đấu đánh giặc. Nhiều cụ đã tranh thủ, chủ động dỡ nhà ngâm xuống ao để đề phòng địch đến đốt, làm lán sơ tán lên rừng, cất giấu thóc, gạo, muối, vận động con cháu tham gia các đội dân quân thôn và đội du kích tập trung của xã.
Cán bộ và nhân dân xã Đại Lịch rất tốt. Nhiệt tình yêu nước, đoàn kết đùm bọc cán bộ, lại có Đội du kích khá mạnh, có tổ chức hệ thống truyền tin báo động kịp thời giữa các thôn. Nhân dân triệt để vườn không nhà trống, triệt để sơ tán cất giấu lương thực. Không có tề nguy (chỉ có Lý Cấu chạy vào đồn Đồng Bồ), không có bốt trong xã, lại có thế liên hoàn tiếp giáp các thôn kháng chiến của các xã Chấn Thịnh - Cát Thịnh - Thượng Bằng La và với vùng tự do Trấn Yên. Nhân dân các xã trong vùng đều hăng hái, kiên quyết đánh địch, tổ chức du kích khá mạnh, triệt để sơ tán, cất giấu lương thực và sẵn sàng đánh địch. Ở đây lại có chỗ dựa là lực lượng bộ đội chủ lực của Tiểu đoàn đồng chí Thắng.
Do vậy Huyện uỷ đã chọn xã Đại Lịch làm nơi đóng cơ quan Huyện uỷ và UBKC huyện trong thời kỳ đầu địch tạm chiếm đóng ở Văn Chấn.
Các cụ ngày xưa đã dạy: “Đất lành chim đậu”. Binh thư của người xưa và nay các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã chỉ rõ 3 yếu tố; thiên thời, địa lợi, nhân hòa là những yếu tố quan trọng để trú quân đánh giặc. Chúng tôi đã ứng dụng những lời dạy trên để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến.
Nơi đây, Huyện uỷ đã nhanh chóng tập hợp cán bộ cơ sở, gặp lại các đồng chí cán bộ phụ trách xã, các đồng chí đảng viên lớp tháng 8/1947, làm việc với các đổng chí Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến xã..., phổ biến chỉ thị của Tỉnh uỷ và tiếp tục chỉ đạo các xã thực hiện triệt để vườn không nhà trống, triệt để sơ tán, tranh thủ thu hoạch mùa, cất giấu lương thực, tổ chức canh gác, bố trí du kích sẵn sàng đánh địch khi chúng đi càn hay vận chuyển tiếp tế giữa các đồn.
Cũng từ nơi đây, Huyện uỷ đã chỉ đạo nhanh chóng củng cố đội du kích tập trung của huyện (sau này là đơn vị Đại đội 86, bộ đội địa phương của huyện), vận động nhân dân góp gạo nuôi quân, mua súng đạn kể cả ủng hộ quần áo. Huyện uỷ cũng đã gặp các đơn vị chủ lực bàn bạc kế hoạch tác chiến, phối hợp với các đội du kích xã...
Trận đầu tiên, là trận phục kích đánh địch áp giải đoàn tiếp tế gạo, thực phẩm từ đồn Đồng Bồ (Chấn Thịnh) ra đồn Dọc, ngày 15 tháng 11 năm 1947 ở Khe Nước Mát (Đèo Cuồng). Khi địch đã lọt vào ổ phục kích, du kích xã Đại Lịch đã nổ súng đánh bất ngờ, đoàn tiếp tế chạy toán loạn, ta thu được toàn bộ lương thực, thực phẩm và một khẩu súng.
Chiến thắng đầu tiên của ta ở xã đã khích lệ và cổ vũ tinh thần của du kích và nhân dân, tin tưởng là ta có thể đánh được Pháp, nếu chúng ta chủ động đánh chúng bất ngờ. Lần đầu khi du kích nổ súng thì tổ du kích phụ lão và thanh thiếu niên cũng reo hò đánh trống mõ, kẻng liên hồi để áp đảo tinh thần quân giặc, buộc chúng phải tháo chạy...
Trận tiếp theo là ngày 20/11/1947, được tin báo địch sẽ kéo quân Đồn Dọc đi Đồng Bồ - Trung đội Quốc Trần của tiểu đoàn chủ lực đồng chí Thắng và đội du kích Đại Lịch do đồng chí Minh Lưu chỉ huy đã chọn Đèo Din làm trận địa phục kích. Nơi đây núi cao, vực sâu, chỉ có một con đường độc đạo ven theo suối, bộ đội và du kích chiếm lĩnh trận địa từ 3 giờ sáng, đến 9 giờ sáng địch mới tới, có 1 trung đội, 2 tên Pháp chỉ huy. Để địch vào đúng trận địa phục kích, ta giật 3 quả mìn tự tạo nổ tung, súng du kích và bộ đội ta xối xả bắn vào đội hình địch. Bị đánh bất ngờ, chúng hoang mang chạy xuống khe Din, định sang đồn Dọc nhưng bị bẫy đá sập xuống rào rào, ta hô xung phong đánh giáp lá cà...
Sau 15 phút, rút về nơi an toàn. Trận này, ta tiêu diệt được 2 tên Pháp trong đó có 1 trung uý chỉ huy, 5 lính nguy và 11 tên bị thương, thu 3 súng trong đó có 1 tiểu liên. Về phía ta, em Hoàng Văn Thọ (con ông Phó Đỉnh) bị hy sinh, khi em xung phong từ trên bờ taluy nhảy xuống, bị ngay một tên Pháp bắn chết. Tối đến, ta đã cử ông Điếm (Cù) lấy xác em về làm lễ truy điệu và chôn cất chu đáo.
Tấm gương chiến đấu của em Hoàng Văn Thọ, chiến sỹ du kích đầu tiên của xã Đại Lịch đã có tác dụng cổ vũ lực lượng võ trang và nhân dân các xã huyện Văn Chấn quyết tâm đánh giặc giữ làng, bảo vệ bản mường quê hương. Và ngày 22/8/1998 liệt sỹ Hoàng Văn Thọ đã được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Sau trận Đèo Din, địch phát hiện ta có người hoạt động trong đám tề nguy, chúng đã khủng bố bắt bớ những người nghi vấn, giết ông Phó Thân, bắt ông Phó Quyền (sau phải chạy trốn sang Than Uyên), bắt đồng chí Phạm Văn Bằng (sau trốn thoát) và tra tấn dã man đồng chí Vinh cho đến chết không khai báo một lời.
Tiếp đến trận Gốc Lai (Đồng Mè), ta phục kích giải thoát được một số dân bị bắt, diệt 2 tên địch và 3 tên bị thương, thu 3 súng trong đó có 1 tiểu liên.
Không lập được đồn ở xã Đại Lịch, lại thường xuyên bị bộ đội và du kích đánh, tên đồn trưởng Đồng Bồ đã ra lệnh càn quét dài ngày, nhằm bắt được cán bộ lãnh đạo xã, Huyện bộ Việt Minh và Uỷ ban kháng chiến huyện Văn Chấn. Chúng treo giải 120 đồng bạc trắng và 1 tạ muối, vải vóc, nếu ai bắt được cán bộ lãnh đạo của huyện Văn Chấn và Đại Lịch. Chỉ trong 1 tuần lễ, chúng điên cuồng đốt phá, khủng bố. Đã đốt 142 nhà dân, phá hàng chục ha lúa đã trỗ, bắt hàng chục trâu bò...
Tôi còn nhớ mãi trong một trận càn vào xã Đại Lịch, chúng tôi đang hội ý cán bộ, có tin báo địch tới thôn Lường. Du kích ta đang chặn đánh địch. Chúng tôi phải di chuyển lên rừng. Nhiều quả đạn Moóc-chi-ê của địch cheo veo trên đầu, thậm chí có quả rơi chỉ gần vài mét. Đường dốc trơn, chúng tôi vừa chống gậy vừa lao đi, đường trơn phải nắm chắc vào cây nứa trước mặt kẻo ngã, mặc cho vắt cắn, muỗi đốt, cứ theo sát nhau chạy... Anh Nguyễn Giang mỗi lần lao xuống bám cây, không may nhiều lần gặp phải cây nứa dân đã chặt sát gốc, người lạng đi không kịp giữ đã ngã xệp xuống đất. Anh bực mình chửi đổng “Đù mẹ cây” làm anh em vừa ái ngại vừa buồn cười...
Cuộc chiến đấu ở sáu xã vùng ngoài Văn Chấn diễn ra ngày càng quyết liệt. Với sự phối hợp chặt chẽ của Tiểu đoàn đồng chí Thắng, du kích các xã đã chặn đánh địch đi càn và đi tiếp tế ra đồn Dọc, buộc địch phải co lại đóng ở đồn Đồng Bồ. Trên địa bàn rùng núi, biết thế yếu của địch là phải rải ra đóng đồn cách xa nhau từ 3 đến 5km, khó khăn nhất là phải vận chuyển tiếp tế bằng đường bộ, người ngựa thồ; đóng đồn bơ vơ như một hòn đảo xung quanh là đồi núi, muốn ra đi càn quét là dễ sa bẫy vào ổ phục kích của bộ đội và du kích ta. Chúng tôi đã chủ động khoét sâu yếu điểm này của địch, sẵn sàng bố trí các trận địa phục kích quanh đồn và trên đường về các thôn xã, rồi đưa cả lực lượng bắn tỉa áp sát đồn quấy rối... Vì vậy, địch lúc đầu hung hăng nống ra, nay buộc phải chốt lại ở các đồn Đồng Bồ, làng Bữu, ít dám ra đi càn quét, cướp phá. Những tên tề ngụy nguy hiểm lúc đó - như Chánh Thị, Lý Cận (xã Chấn Thịnh), Lý Cấu (Đại Lịch) phải nằm bẹp trong đồn Đồng Bồ không dám đi theo càn quét.
Cho mãi đến tháng 12 năm 1947, địch mở một trận càn lớn do một tên quan hai Pháp chỉ huy với 2 đại đội khố đỏ. Nắm được ý đồ của địch. Tỉnh đội Yên Bái đã điều một đơn vị chủ lực phối hợp với du kích xã Đại Lịch bí mật phục kích ở Lũm Bũm.
Trận chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta diệt 1 tên Pháp, 9 tên nguy, nhiều tên bị thương buộc địch phải bỏ trận càn về đồn Đồng Bồ, ta thu 2 súng máy, 4 súng trường, nhiều đạn dược.
Trận đánh tiếp là trận phục kích ở làng Mỵ (xã Chấn Thịnh). Bộ đội và du kích các xã Chấn Thịnh, Đại Lịch phối hợp, trừ diệt 21 tên, thu 21 súng trường, 2 khẩu Brenno. Ngoài những trận đánh phối hợp bộ đội với du kích xã, du kích từng xã còn chủ động bám sát các đồn địch ở làng Bữu, Đồng Bồ. đánh địch đi vận chuyển tiếp tế hay nống ra đi càn, phục kích, tiêu hao địch, thu lại trâu trả cho dân như các trận ở Khe Căng, Khe Sén ở Bằng Là, Đèo Dát (Lường). Du kích Minh An (người Dao) đã đánh một trận “dốc ống” rất hay, dùng tất cả vũ khí mới được huyện cấp gồm bom, lựu đạn tiêu diệt một toán địch có Tây khi chúng mò vào khu sơ tán.
Đồng chí Hoàng Văn Quang, xã đội trưởng xã Đại Lịch khi đi điều tra địch ra càn quét, không may bị lọt vào ổ phục kích của địch. Nhưng đồng chí Quang đã anh dũng dùng dao găm đâm trọng thương 2 tên địch, kiên quyết không để chúng bắt, và chúng đã phải nổ súng giết anh. Tấm gương sáng kiên trung bất khuất của một chiến sỹ du kích, của một đảng viên mới (sau lớp cách mạng tháng 8/1947) mãi mãi sáng ngời trong lòng lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc Yên Bái.
Đại Lịch đã vững vàng và phát huy tác dụng làm nơi đóng cơ quan chỉ đạo của huyện uỷ Văn Chấn. Căn cứ du kích đã hình thành một vùng khá rộng trải từ các thôn xã Đại Lịch nối liền với các thôn xã Chấn Thịnh - Thượng Bằng La, Bình Thuận, Cát Thịnh, Minh An, Đồng Khê, nối tiếp với vùng Đá Xô - Tề Suối Láng, Làng Nhì. Ở Trấn Yên, bộ đội chủ lực và du kích các xã Hưng Khánh, Âu Lâu, Đại Bục, Đại Phác đã đánh nhiều lần địch ra lấn chiếm, xây dựng, vùng căn cứ du kích tiếp giáp với vùng căn cứ du kích 6 xã vùng ngoài huyện Văn Chấn thành một vùng căn cứ rộng lớn tiếp giáp vùng tự do Trấn Yên, vững vàng, ngăn chặn được địch nống ra vùng tự do, tạo điều kiện để cán bộ, bộ đội ta tiến sâu vào trong lòng địch tạm chiếm ở Nghĩa Lộ, Than Uyên và Lai Châu.


