Những ngày đầu ở chiến trường Đông Bắc

Đầu năm 1989, đất nước vẫn còn chưa kịp nguôi ngoai sau những năm dài chiến tranh, cuộc sống còn bộn bề gian khó. Trong bối cảnh đó, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tôi cùng bao thanh niên trai tráng đã lên đường tòng quân, khoác lên mình màu áo xanh hải quân với niềm tự hào và khát vọng của tuổi trẻ.
Tôi được biên chế về Trung đội 1, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 147 Hải quân một đơn vị giàu truyền thống của Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trung đội tôi do Thiếu úy Nguyễn Văn Minh làm Trung đội trưởng; Đại đội có Đại úy Dương Hồng Nhung là Đại đội trưởng, Thiếu úy Nguyễn Minh Phương là Đại đội phó Chính trị, Thượng úy Nguyễn Văn Tuấn là Đại đội phó Quân sự. Ở Tiểu đoàn, chỉ huy gồm Đại úy Phạm Tôn Càn – Tiểu đoàn trưởng, Đại úy Ngoại – Tiểu đoàn phó Chính trị, và Đại úy Phụng – Tiểu đoàn phó Hậu cần.Ba mươi sáu năm đã trôi qua kể từ ngày rời đơn vị ấy. Dẫu chưa một lần trở lại nơi từng đóng quân, hình ảnh đồng đội, thao trường, bãi tập, những đêm gác lạnh hay những chuyến hải trình gian nan vẫn vẹn nguyên trong ký ức. Tuổi trẻ của chúng tôi đã đi qua trong khói gió thao trường, nhưng tình đồng chí, đồng đội vẫn cháy mãi như ngọn lửa không bao giờ tắt.Tôi viết lại những dòng hồi ức này như một lời tri ân sâu sắc gửi về những vùng đất đã nuôi dưỡng bước chân người lính trẻ, gửi đến những đồng chí đã cùng tôi sẻ chia bao gian khổ và niềm vui.
Những ngày đầu ở chiến trường Đông BắcNhững tháng ngày huấn luyện ở miền Đông Bắc là quãng đời khó quên. Ngày ngày rèn luyện điều lệnh đội ngũ, kỹ thuật chiến thuật bộ binh, mồ hôi chúng tôi đổ ướt lưng áo dưới khẩu hiệu quen thuộc:“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.”Đêm xuống, trong cái lạnh cắt da của vùng núi, chúng tôi ôm súng thay nhau canh gác. Giữa bóng tối dày đặc, chỉ có tiếng gió rít, tiếng côn trùng vo ve và hơi thở của những người lính trẻ làm bạn đồng hành.Cái đói, cái rét trở thành điều quen thuộc. Cơm ít, gạo ẩm mốc, bữa sáng chỉ là ổ bánh mì nhỏ bằng trái chuối – vừa ăn vừa gấp nội vụ, nhiều khi phải nhặt mọt vì bột mì đã quá hạn. Ở sát biển nhưng thiếu nước ngọt, mỗi sáng cả chục người chỉ được chia nhau nửa gàu nước để rửa mặt, đánh răng. Muốn có nước, đồng đội phải bám vào thành giếng sâu, dùng bát múc từng chút nước đổ vào gàu cho người trên kéo lên một hình ảnh không thể nào quên.Những ngày Chủ nhật, chúng tôi vào núi lấy củi. Cành thông khô được gom lại, bó thành từng bó dài chừng 1,5m vác qua những con dốc dựng đứng. Khi đi ngang nhà dân, nhìn thấy mâm cơm gia đình quây quần, lòng bỗng lặng lại thèm một bữa cơm ấm, thèm tiếng cười thân thương. Buổi chiều, anh em tranh thủ tắm giặt, nghỉ ngơi và viết thư về nhà. Những lá thư mộc mạc chỉ vài dòng nhưng chứa đựng bao thương nhớ.Đêm hành quân qua các bản làng, nhìn thấy ánh đèn dầu leo lét bên bàn học của lũ trẻ, tôi lại nhớ tuổi thơ mình đến nao lòng.Trong đơn vị, chúng tôi còn trồng rau muống hạt trên nền đá thứ “đất tăng gia” thực ra chỉ là than đá trộn phân người. Nền đất cứng như xi măng, cuốc chim bổ xuống bật toàn đá. Chúng tôi phải trộn tro xỉ với phân tươi, bón lên luống, gieo hạt rồi tưới nước hằng ngày. Thật kỳ diệu, vài hôm sau rau muống vẫn mọc xanh. Vườn rau nằm sát nhà ăn nên ruồi nhặng kéo đến rất nhiều, đồng chí trực nhật phải vất vả lắm mới xuôi được đàn ruồi ra khỏi bếp. Nhưng nhờ những luống rau ấy, bữa cơm của anh em được xanh hơn, vui hơn giữa những ngày thiếu thốn.
Những ngày đầu ở chiến trường Đông BắcNhững tháng ngày huấn luyện ở miền Đông Bắc là quãng đời khó quên. Ngày ngày rèn luyện điều lệnh đội ngũ, kỹ thuật chiến thuật bộ binh, mồ hôi chúng tôi đổ ướt lưng áo dưới khẩu hiệu quen thuộc:“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.”Đêm xuống, trong cái lạnh cắt da của vùng núi, chúng tôi ôm súng thay nhau canh gác. Giữa bóng tối dày đặc, chỉ có tiếng gió rít, tiếng côn trùng vo ve và hơi thở của những người lính trẻ làm bạn đồng hành.Cái đói, cái rét trở thành điều quen thuộc. Cơm ít, gạo ẩm mốc, bữa sáng chỉ là ổ bánh mì nhỏ bằng trái chuối – vừa ăn vừa gấp nội vụ, nhiều khi phải nhặt mọt vì bột mì đã quá hạn. Ở sát biển nhưng thiếu nước ngọt, mỗi sáng cả chục người chỉ được chia nhau nửa gàu nước để rửa mặt, đánh răng. Muốn có nước, đồng đội phải bám vào thành giếng sâu, dùng bát múc từng chút nước đổ vào gàu cho người trên kéo lên một hình ảnh không thể nào quên.Những ngày Chủ nhật, chúng tôi vào núi lấy củi. Cành thông khô được gom lại, bó thành từng bó dài chừng 1,5m vác qua những con dốc dựng đứng. Khi đi ngang nhà dân, nhìn thấy mâm cơm gia đình quây quần, lòng bỗng lặng lại thèm một bữa cơm ấm, thèm tiếng cười thân thương. Buổi chiều, anh em tranh thủ tắm giặt, nghỉ ngơi và viết thư về nhà. Những lá thư mộc mạc chỉ vài dòng nhưng chứa đựng bao thương nhớ.Đêm hành quân qua các bản làng, nhìn thấy ánh đèn dầu leo lét bên bàn học của lũ trẻ, tôi lại nhớ tuổi thơ mình đến nao lòng.Trong đơn vị, chúng tôi còn trồng rau muống hạt trên nền đá thứ “đất tăng gia” thực ra chỉ là than đá trộn phân người. Nền đất cứng như xi măng, cuốc chim bổ xuống bật toàn đá. Chúng tôi phải trộn tro xỉ với phân tươi, bón lên luống, gieo hạt rồi tưới nước hằng ngày. Thật kỳ diệu, vài hôm sau rau muống vẫn mọc xanh. Vườn rau nằm sát nhà ăn nên ruồi nhặng kéo đến rất nhiều, đồng chí trực nhật phải vất vả lắm mới xuôi được đàn ruồi ra khỏi bếp. Nhưng nhờ những luống rau ấy, bữa cơm của anh em được xanh hơn, vui hơn giữa những ngày thiếu thốn.Chùm ảnh tư liệu
1 / 2
Ảnh tư liệu của bài viết.



