Những ngày đầu ở đại ngàn Sa Thầy (1971)
Sau ba tháng vượt Trường Sơn, người lính trẻ được bổ sung vào C6–E66 tại chiến trường Tây Nguyên. Những ngày đầu ở rừng Sa Thầy hiện lên với cuộc sống hầm hào giữa đại ngàn, tình đồng đội, cái đói, sốt rét ác tính và cả những câu chuyện sinh tử nơi chiến trường khốc liệt.
Sau 3 tháng vượt trường sơn.Tháng 8-1971 tôi được bổ sung vào C6-K8-E66 sau này thuộc F10-QÐ3 Tây nguyên.
Ðơn vị đóng quân trong một khu rừng già thuộc huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum. Ðó là một sườn đồi khá dốc, phía trước có một con suối nhỏ, các căn nhà làm dưới tán cây cách nhau khoảng vài chục mét. Nền nhà được đào vào sườn núi, cột và vách nhà làm bằng cây vầu- Loại cây thuộc họ tre nứa mọc đại ngàn ở khu vực này. Mái nhà cũng làm bằng thân cây vầu bổ đôi, lóc vấu lợp úp lên nhau. Có một cửa ra vào hai bên được chắn lại bằng một bức tường xếp bằng cây, đổ đất bên trong vuông vức.Ðầu nhà đào thông vào một căn hầm chữ A có một cửa phụ để thoát ra ngoài khi bị bom oanh tạc.Tôi biên chế vào A1-B1, căn nhà có hai chiếc giường hai bên làm bằng thân vầu băm thành xạp, ở giữa là một chiếc bàn bằng thân cây nứa đan lại phủ một mảnh tăng lên trên.Hơn ba tháng hành quân trên rừng toàn nằm trên võng nay nằm thẳng cẳng trên giường nó giống như người ta nằm ưỡn ngực ra, rất khó chịu.Nhà có bốn người, anh Thụ tiểu đội trưởng vào chiến trường từ năm 69. Huy (tụt tạt-ca cóng) vào đây năm 70. Còn lại Luận người Gia Thanh -Phù Ninh- Phú Thọ và tôi là lính mới. Phía trước hầm có một cây dâu da cành lá um tùm chẳng thấy có quả nào cả. Phía bên kia suối là một cánh rừng đại ngàn mà lúc bấy giờ chúng tôi một mình không ai dám bước sang.Toàn đại đội có hơn bốn mươi người. Anh Xuyên 22 tuổi đại đội trưởng. Anh Phú trắng trẻo, đẹp trai cũng khoảng tuổi đại đội trưởng - làm chính trị viên.Lũ lính mới được nghỉ hai ngày để tắm giặt, làm quen với tiểu đội và cuộc sống ở hầm. Buổi tối ngày thứ hai toàn đại đội tập trung trên mảnh sân nhỏ trước cửa đại đội bộ. Anh Xuyên chính thức đọc biên chế cho từng tiểu đội, giới thiệu chức danh, nhiệm vụ từng B chiến đấu, nội quy an toàn nơi đóng quân và nhiệm vụ mới của đơn vị. Anh Phú nói về truyền thống của trung đoàn 66 Trung đoàn Anh hùng, những chiến công mới nhất như trận đánh công kiên cao điểm Ngọc-Rinh-Rua, Ngọc-Bờ-Biêng v.v Gương những anh hùng, liệt sỹ như Vương Văn Chài tiểu đoàn 7... Lúc bấy giờ tôi mới biết mình ở trong đội hình của đại đội mở cửa.Hàng ngày chúng tôi leo lên đỉnh đồi nơi đơn vị đóng quân để tập quân sự. Thao trường là một vạt rừng bằng phẳng chặt hết cây nhỏ để lại cây to ngụy trang và làm bóng mát. Lô cốt được đan bằng phên nứa ghép ba mặt khoét một lỗ châu mai. Hàng rào kẽm gai cũng bằng dây nứa chẻ ra đan thành hàng rào đơn, kép, loại mái nhà, loại lò xo nhằng nhịt.Ngoài những người lên thao trường, đại đội để lại từ ba đến bốn chiến sỹ ở nhà giúp anh nuôi gọi là đội quân đi (cải thiện).Một lần tôi được phân công xuống nhà bếp.Tôi hỏi tiểu đội trưởng:· -Ði cải thiện là làm những gì?Người A phó đứng bên cạnh cau có:· -Ði cải thiện mà cũng không biết làm cái gì ! Ông chỉ ăn thôi à? Tự nhiên tôi thấy mình bị xúc phạm:· -Này tôi vào đây vì nhiệm vụ cách mạng chứ không phải vào để ăn xin ông đâu-Bỏ kiểu ma cũ bắt nạt ma mới ấy đi !Từ ấy không ai dám quát tháo tôi nữa.Bước sang tuổi 18 tôi còn trẻ lắm, mặt búng ra sữa, trắng trẻo, đẹp trai nhưng cũng rất ngang ngạnh. Nghe đâu anh Phú định lấy tôi lên làm liên lạc đại đội, người trung đội trưởng bảo:· -Thằng này nhìn mặt nó hiền thế thôi chứ người lính- Tính quan đấy! Ngang lắm .Một hôm đến lượt tiểu đội tôi đi cải thiện Huy đưa tôi đi ngang qua bờ suối. Sang một bãi đất bằng phẳng tôi chợt thấy có hai ngôi mộ đất còn rất mới, tôi ngạc nhiên hỏi:· -Dân có gần hay xa mà mồ mả lại chôn ở đây thế này anh Huy?Huy bảo:· -Ðại đội cấm không được đưa lính mới sang chỗ này - thế nhưng ở đây nhiều măng lắm. Tý nữa về đừng có nói cái gì đấy nhé!Qua Huy tôi mới biết đó là hai chiến sỹ của đại đội 6 vừa mới chết.Thằng Quang bị sốt rét ác tính - còn cái mộ bên phải kia là thằng Ký bị voi dàyđấy .Tôi hỏi:· -ở đây cũng có voi à! Thế nào lại bị voi dày? Huy kể: Năm vừa rồi đại đội mình tổ chức đi săn lấy thịt ăn tết. Ba người đi trong đó có Ký, loanh quanh trong rừng một đoạn họ phát hiện thấy một con voi rất to ở dưới sườn núi, tất cả ba khẩu AK cùng tập trung nhả đạn, bắn voi như đánh nhau với biệt kích ấy. Con voi bị thương nặng, lao đầu bỏ chạy. Nó đi đến đâu giang tre nứa cứ đổ rạp đến đấy, cả những sợi song to bằng bắp tay cũng bị tuốt xuống hết. Nghe tiếng nứa nổ phía bên kia đồi, ba người bèn chạy đón đường. Lúc ấy Ký đi đầu, bám theo vết chân voi không ngờ con voi lại chui đít vào bụi, thò đầu ra ngoài. Ký vừa đi đến nơi nódùng vòi quấn ngang người Ký và đập mạnh xuống đất , dùng chân dẫm nát rồi bỏ đi. Hai người còn lại không còn hồn vía nào nữa chạy về báo cho đại đội. Hôm sau con voi ấy ra uống nước và cũng chết bên bờ suối. Thế cho nên đại đội không muốn số lính mới biết chuyện này, sợ tư tưởng hoang mang, dao động.Trưa về chúng tôi giao cho anh nuôi hai gùi măng rất nặng. Ðầu óc tôi cứ lởn vởn hình ảnh hai ngôi mộ nằm im lìm, hoang vu bên bờ suối, hai người chiến sỹ trẻ măng tầm tuổi tôi đã vĩnh viễn nằm lại ở mảnh đất đại ngàn này, rồi đây ai xẽ quay lại tìm, ai hương nhang cho họ.Tháng tám đang vào mùa mưa dữ dội, con suối trước nhà nước chảy ào ào như thác, rất ít hôm trời tạnh ráo. Ngoài những ngày tập quân sự ra, mỗi tháng chúng tôi phải hai lần đi lấy gạo.Từ địa điểm đóng quân ra đường xe thồ nơi có kho gạo phải mất ba ngày cả đi và về. Mờ sáng chúng tôi hành quân, khoảng 4 giờ chiều đến vị trí tạm trú. Một số ở lại làm lán và lấy củi phụ giúp anh nuôi, mấy người nhanh nhẹn, tháo vát cầm gùi tìm vào nương bỏ hoang của dân đào sắn- Tối về luộc cho chặt bụng.Tôi và Huy thường được đi trong nhóm ấy. Huy bảo tôi:· -Người dân tộc Thượng ở đây họ thật thà, chất phác và rất ghét sự trộm cắp dối trá. Thằng Công sau này nó bị sốt rét ác tính chuyển ra K thu dung rồi- Một lần chui vào nương sắn của dân đào trộm, không ngờ họ phục kích và bắt được quả tang. Dân bảo: Ðồng bào ghét cái bộ đội này như ghét con heo rừng! Con heo rừng phá nương của đồng bào cái bộ đội này cũng phá rẫy của mình, đồng bào xin cái tay bộ đội!Hôm ấy may làm sao thằng Công lại đem theo quả US , nó nhanh trí rút quả lựu đạn ra và bảo: Ðồng bào mà chặt tay của mình, mình buông tay ra thì mình và đồng bào cùng chết!Hoảng quá đồng bào bảo:Ơ cái bộ đội chết còn có người bổ sung, đồng bào mà chết thì không có ai thay mình á, thôi cho cái bộ đội đi đi!Chẳng hiểu có thế thật hay Huy nói để doạ tôi nhưng hôm đó sau khi lấy xong mỗi người một gùi sắn, đang cắt rừng tìm đường về thì gặp một nhóm dân đang làm cỏ lúa. Chúng tôi mặt tái mét, tôi ngã huỵch xuống đất, gùi sắn dập xuống, ngực đập vào một gốc cây cụt vẫn còn đau đến tận bây giờ.Tối về anh nuôi gọt sắn, luộc lên chia về cho các lán. Nằm đung đưa trên võng, ăn củ sắn thơm và bùi cũng thấy yêu đời đáo để. Bởi thế lính tây nguyên mới có câu ca rằng:Tà tà chân bước vào nươngTay ôm quả bí - bụng thương đồng bào.Sáng hôm sau hành quân đến kho gạo chia vào các gùi xong, ăn cơm nắm và quay về đến chỗ chú quân hôm qua là vừa tối.Có những hôm gặp mưa ngang đường, nước lũ lên ngập lênh láng, cây cối từ thượng nguồn lao phăng phăng xuống hạ lưu. Ðại đội cử những người khoẻ mạnh, bơi giỏi chặt dây rừng nối từ bờ bên này buộc vào gốc cây bên kia và lần lượt dòng từng bao gạo sang sông. Một hôm về gần đến nhà Huy bảo tôi tạt vào rừng, hai thằng bỏ bao gạo vào gốc cây, chui vào nương lạc của K thu dung. Huy bảo: Này khẽ chứ nhé, bọn chòi canh mà nhìn thấy là nó bắn thật đấy!Huy làm nhanh lắm, thoắng một cái hắn đã có một ôm xuống suối, hai thằng rũ thật sạch, vác lên bờ vặt lạc cho vào mấy ống nứa non và đốt lửa. Huy thì vừa đun vừa quay ống nứa, tôi thì bẻ một cành cây ra sức quạt cho khói tản ra, tan đi dưới tán lá rừng, hợp đồng khéo lắm.Xong xuôi, hai thằng ngồi dựa vào gốc cây đánh một trận vằn bụng. Số còn lại cho vào túi cơm mang về cho tiểu đội . Lúc ca cóng Huy nhanh mạnh như con gấu, khi về gần đến đại đội hắn đi dặt dẹo như thằng ốm nặng. Người quản lý đại đội chờ gạo lâu quá hỏi:· -Hai anh tụt tạt ở đâu bây giờ mới về, lại ca cóng phải không? Huy mặt mày thiểu lão bảo:· -Ðang đi thì lên cơn sốt, nhờ thằng Hậu áp tải mới về đến đây đấy!Lúc bấy giờ tôi mới thấy rõ cái biệt tài và biệt hiệu chuyên tụt tạt và ca cóng của Huy.Cuối năm 69 và năm 70 -71 chiến trường Tây Nguyên vô cùng căng thẳng. Non-Lon đảo chính, Cam-Pu-Chia, nơi cung cấp lương thực cho chiến trường Miền nam gặp rất nhiều khó khăn nhất là mặt trận Tây Nguyên.Trang phục thiếu thốn, bộ đội mặc quần áo vá để đánh giặc.Mỗi ngày được cấp một phảy năm lạng gạo chia làm ba bữa, mỗi bữa chỉ được hơn một bát cơm, ai tham ăn sơi hơi đầy một tý thì coi như đồng đội mình bị đói. Cái đói dai dẳng dằn vặt và tiêu hao sức khoẻ người lính, nó ngấm ngầm làm xuy đồi đạo đức Cách mạng bởi vì có thương yêu nhau đến đâu cũng không ai chịu đói để người khác ngày nào cũng ăn no hơn mình.Thế là mỗi lần sới cơm:Tám con mắt đổ dồn vào cái bát B52 khốn khổ, người ăn tham dù có khéo đến đâu cũng không che được tám con mắt sáng quắc đang dõi theo kia.Cũng không ít những đồng chí của mình bị đồng đội lia bát xuống suối, phải ăn bằng vấu bương.Chính vì thế nên đại đội tổ chức cho bộ đội đi cải thiện bằng lấy nhiều măng và rau rừng về ăn thêm.Thôi thì hổ đốn đủ loại: Măng, bống báng, vả, rau tàu bay, rau vòi voi, môn thục, chuối rừng nghĩa là cái gì ăn không chết người thì đều khợp được cả. Mỗi ngày phải có từ hai đến ba người mang theo gùi và dao găm đi cách đại đội khoảng nửa ngày đường tìm vào nương bỏ hoang của dân để đào sắn về độn thêm cho bộ đội. Khổ hết chỗ nói.Ănđói mặc rách cộng thêm điều kiện khí hậu ác nghiệt, sốt rét triền miên, người lính thời gian nằm viện điều trị sốt rét còn nhiều hơn cả bị thương, bộ đội chết về sốt ác tính không phải là ít.Thế rồi cái gì đến đã đến. Hôm ấy tôi cầm gùi xuống nhà bếp đi cải thiện, đang ngồi chờ anh nuôi nắm cơm thì bỗng thấy người mình nổi gai ốc, hai bên má lạnh buốt, co giật liên hồi, mồm ngáp vặt và sán vào bên bếp vẫn thấy chưa đủ ấm. Anh Thụ cùng đi bảo:Thằng Hậu sốt rét rồi, không đi được đâu! Lên y tá lấy thuốc nhanh !Thế là tôi sốt-sốt liên miên, cơn nọ gối với cơn kia, ngày này qua ngày khác hàng triệu con ký sinh trùng sốt rét tàn phá cơ thể non nớt ấy. Có lẽ đại đội đã hiểu cái nguy hiểm đợt sốt đầu tiên của lính mới như tôi cho nên rất quan tâm: Chiều chính trị viên lên sờ đầu kiểm tra nhiệt độ, động viên tôi cố gắng đừng bỏ bữa - Tối đại đội trưởng đến nhắc không nên nằm nhiều, cố gắng vận động tránh sốt rét ác tính.Y tá đại đội kiểm tra nhiệt độ liên tục, thuốc uống , thuốc tiêm người tôi như lả đi. Mỗi cơn sốt rét run bần bật, đồng đội dùng tất cả chăn quấn lên người mà rét không chịu nổi.Một tuần sau, cơn sốt thưa hơn, chính trị viên bảo tôi cố gắng lên thao trường xem anh em tập. Anh Phú bảo: Cậu lên đây ngồi xem, lúc nào mệt thì mắc võng nằm nghỉ. ở nhà một mình, nằm nhiều nguy hiểm lắm.Hàng ngày tôi vác súng cùng bộ đội lên thao trường. Cái nắng nhạt nhoà những ngày cuối thu, khu rừng khô ráo không còn ẩm ướt như mấy ngày trước nữa.Bộ đội từng tốp tập theo khoa mục của mình:Tiểu đội dò gỡ mìn mỗi người có một chiếc thuốn, một que nhỏ làm động tác dò mìn căng chùng nổ, tìm mìn các loại chôn dưói đất.Tiểu đội cắt hàng rào kẽm gai làm quen với đủ loại hàng rào đơn kép, loại hàng rào bùng nhùng nằm ngửa ra, cắt sáu mối mới gỡ ra được.Thế rồi đội hình gá bộc phá, đội hình đánh công kiên chiếm lĩnh lô cốt đầu cầu.Tiếng người chỉ huy ra các tình huống cho bộ đội sử lý, tiếp cận, đánh phá mục tiêu.Cứ khoảng chín giờ sáng là tôi lại bắt đầu ngáp vặt, người gây lạnh, sưn sửn sốt.Trung đội trưởng cho tôi nghỉ về võng uống thuốc. Bắt đầu lại một cơn sốt rung cả võng, người toả nhiệt nóng hầm hập mà bên trong thì rét không chịu được.Trưa bộ đội nghỉ luôn trên thao trường bởi vì về đến nhà lại leo lên thao trường vừa xa, vừa dốc bộ đội thì anh nào cũng dọ dẹo vì thiếu ăn và sốt rét.Tôi vừa lên thao trường vừa sốt, tóc bắt đầu rụng từng mảng, vuốt mạnh một cái là có một nắm tóc đi theo. Không có gương để xem mặt mình nó còn giống thằng Hậu ngày xưa nữa không? Thỉnh thoảng ra bờ suối soi mình xuống dòng nước thấy mây trắng ở ngay trên đầu và một gương mặt lạ hoắc, bủng xì, tóc tai phờ phạc, lơ thơ vài cụm. Ngày nào chúng tôi vào chiến trường còn thơm mùi sữa mẹ, áo quần bảnh bao đầy chất lính chủ lực. Ði qua đoàn quân sốt rét và thương binh chuyển ra Bắc thấy họ bủng beo, ẩm mốc, mùi gây gây đặc chưng của kẻ chuyên nằm hầm. Giá như những người mẹ, người vợ mà gặp chồng, con họ ngoài mặt trận thế này, chắc không ai cầm được nước mắt.Một lần ở trên thao trường về, tôi lại sốt, chân tay rã rời, rủn ra đi không vững nữa. Khẩu súng trên vai nặng chịch, mắt hoa, người chao đảo như say sóng. Bộ đội đã về từ lâu mà tôi vẫn run rẩy, lập cập trên lưng chừng dốc.Tự nhiên tôi khóc, vừa đi vừa khóc, nước mắt chảy đầm đìa rồi rớt xuống nền đường. Bỗng có tiếng chân người chạy phía sau:Ông tướng nào còn tụt tạt ở đây? Hậu hả, sao lại khóc!Thôi đưa anh cõng.Anh Hựu- Chính trị viên phó đại đội hôm nay qua tiểu đoàn bộ báo ban về muộn gặp tôi giữa đường và cõng tôi về đại đội bộ, anh bảo:Thằng Hậu dạo này sốt ác liệt quá! Có lẽ ngày mai cho nó lên quân y tiểu đoàn để chăm sóc và nghỉ ngơi một thời gian, ở nhà dễ bị ác tính lắm!Từ khi bước chân vào đời lính đến nay tôi đã có ba lần khóc, khóc thật sự, khóc trong thương cảm và tủi hận: Lần đầu tiên khi lên tàu ở Phổ Yên- Bắc Thái, sau bốn ngày con tàu mải miết đưa chúng tôi nhằm về phía nam, qua biết bao nhiêu đồng ruộng, núi đồi, bao nhiêu thành phố lùi lại ở phía sau. Qua Nghệ An rồi Quảng Bình những dãy núi đá vôi ẩn hiện rồi chìm vào ánh chiều chập choạng.Tôi một mình ra đứng ngoài đầu nối toa tàu, trên trời mây bảng lảng, thỉnh thoảng một bụi mây rắc xuống vài cơn mưa nhẹ hạt, con tàu cứ xình xịch lao về phía nam. Gia đình tôi giờ này đang làm gì nhỉ? Mẹ có biết con đang ở đâu không, con ở xa lắm rồi, không biết liệu có ngày quay trở lại chăm lo cho mẹ và thế là tôi khóc. Ðến khi có ai đó đặt tay lên vai tôi và bảo: Ði vào trong toa cho đỡ lạnh, ở ngoài này dễ bị cảm lắm!Lần thứ hai khi vượt sông Sê-Rê-Pốc sang bên kia dừng lại ở một bãi khách. Cuối tháng bảy, mưa tầm tã, cứ mười ngày hành quân được nghỉ một ngày. Tôi mắc võng nằm cạnh người đại trưởng, mưa càng ngày càng nặng hạt, nước gõ nhịp trên mái tăng, bốn bề nghe tiếng mưa rơi và thác đổ. Phía bên cạnh, chiếc đài bán dẫn của đại đội đưa một bản tin chiều:Miền Bắc bị vỡ đê, khu vực Lâm Thao - Phú Thọ nhà nước phải huy động máy bay thả bánh mì và giúp dân sơ tán. Mẹ và các cháu có sao không? Ai còn ai mất, có bốn anh em thì ba đứa vào bộ đội, nứơc ngập mênh mang, ba bề đê vỡ, lợn gà, lúa má ai lo cho mẹ, còn bốn cháu nhỏ của chú thì sao đây. Thế là tôi khóc, dòng nước mắt cứ thế tuôn trào, niềm thổn thức ngập tràn trong tiéng mưa của rừng, của núi.Ngày hôm sau y tá đại đội hộ tống tôi lên tiểu đoàn bộ.Tiểu đoàn nằm cách các đại đội khoảng mười lăm phút đi bộ. Lán trại thì bố phòng nhà ở, hầm hố giống như các đai đội chiến đấu, nhà nọ cách nhà kia vài chục mét. Hầm quân y nằm ở ven suối tôi thấy có vài chiến sỹ mặt xanh, nanh vàng của đơn vị bạn đã đến trước.Chúng tôi được ăn sáu lạng gạo một ngày, duy trì ba bữa cơm. Chín giờ sáng được một cốc sữa bột, hai giờ chiều lại một cốc. Sáng, chiều uống thuốc và tiêm theo phác đồ điều trị sốt rét, ai sốt nặng quá thì gửi về bệnh xá trung đoàn điều trị tiếp.Sau hai mươi ngày tôi có vẻ khoẻ hơn, các cơn sốt cách nhật cũng giảm, tóc vẫn rụng, da xám xì và cũng đỡ bủng beo.Nghe đâu trung đoàn chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới, chúng tôi được trả về đơn vị cũ, tôi được một trung đội trưởng lên báo ban và đón về đại đội.Ðại đội biên chế đã thay đổi: Anh Xuyên sang tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9. Về thay anh là một đại đội trưởng cao to, da trắng, tóc hớt cao với hàng râu quai nón rậm rì. Nhìn tướng mạo nghe có vẻ lãnh đạo dữ dằn lắm. Biết tôi quê ở Lâm Thao anh bảo:Tớ cũng tên là Hậu-cũng ở Lâm Thao, ở xã Sơn Dương ấy, cạnh xã cậu, đúng không? Ðã biết quê mình bị vỡ đê chưa? Ngày xưa các cụ ở trên ấy nhưng hiện nay mình lại đi định cư ở Lập Thạch,thỉnh thoảng có công việc mới về quê thôi.Từ đó anh có vẻ mặn mà, thân mật với tôi hơn.Ðại đội còn có mấy chiến sỹ nằm viện do sốt rét trở về.Tiểu đội tôi bổ xung thêm Thấu- Vào chiến trường năm 70. Ðó là một anh lính vừa bé lại vừa thấp, mắt me rằng, răng vẩu vàng xỉn, miệng rộng nếu cười lên thì chỉ thấy toàn răng là răng. Nghe đâu ông này kẹt sỷ lắm. Cái thời cuối 70 đầu 71 trung đoàn không đủ muối ăn, bộ đội thèm muối hơn cả thèm thịt.Tiểu đội ngồi ăn cơm hắn xin ở đâu được ít muối hạt, không bỏ ra cho ai ăn cả, cứ thậm thụt thò tay vào túi bỏ từng hạt muối ăn mình.Thuốc rê thì hắn chỉ quen xin, không muốn cho ai bao giờ, ai xin đuợc một điếu ít nhất phải cho hắn cái gì hoặc là đồng hương đồng khói. Cái ngữ ấy thì tôi chúa ghét.Cuối năm 1971 chúng tôi chuyển ra khu vực KàLeng -Xa Thầy củng cố hậu cứ, vừa huấn luyện, vừa phát nương làm rẫy. Nghe đâu chuẩn bị đánh lớn, bộ đội phát rẫy để đưa dân ra vùng giải phóng.Chúng tôi ở dọc theo một con suối lớn, văn thư lên tiểu đoàn đem về mấy gùi dao quắm. Mỗi người một con, khoán định mức là 800m2/đầu người, ngày không làm xong thì tối làm tiếp. Các tiểu đội lăn lưng ra mà làm, ban ngày phát tất cả các loại cây con và dây leo, tối đến tập trung hạ các cây to đơn độc bỏ lại. Người ta luôn đưa tin từ trung đoàn về các gương sáng phát nương giỏi, các kinh nghiệm tăng năng xuất lao động Kích động và đua nhau làm, đêm về hai cánh tay giật mình thon thót.Một hôm đang phát trên nương, tôi thấy có tiếng ì ì đùng đục và kèm theo tiếng rít của gió, một loạt tiếng nổ rung chuyển cả cánh rừng. Có ai đó thét lên: B52 đấy, nằm xuống!Người ta tranh nhau nằm bẹp cạnh thân cây đổ, tôi thì cứ ngóc cái đầu lên xem B52 nó như thế nào,Thấu kéo áo tôi xuống: Cái thằng Hậu- Nằm xuống không chết bây giờ!Xong đợt B52 đại đội lệnh cho sơ tán về lán trại đề phòng địch có thể đổ quân.Vừa đi Thấu vừa bảo: May mà nó rê sang hướng đường xe thồ, nó mà quay về hướng mình thì chết hết, có lẽ biệt kích nó phát hiện thấycông binh của mình đang làm đường đấy.Về đến nhà, chúng tôi chuẩn bị súng đạn nếu có lệnh xuất kích là đi được ngay.Ðầu năm 1972 công việc phát nương, làm rẫy chuẩn bị hoàn thiện để bàn giao cho các đơn vị phía sau. Hôm ấy tôi mới nhận súng B40 loại súng hoả lực bộ binh chống tăng mạnh nhất lúc bấy giờ. Ðang lau súng bỗng nghe tiếng bom dội phía sau hậu cứ, tiếng trực thăng bay rất thấp kèm theo hàng loạt đại liên, phóng lựu nổ rất dữ dội. Bộ đội trên nương chạy ào về: Chuẩn bị xuất kích, địch đổ quân vào hậu cứ của ta! Tôi ngớ ngẩn:ở đây hay hành quân đánh nhau hả anh Thụ?Thụ bảo :-Chuẩn bị súng đạn nhanh lên!Lệnh C6 chuẩn bị chiến đấu- C7 xuất kích! Thế là chúng tôi ôm súng chờ.Bom đánh đến chiều tối, trực thăng còn đảo thêm mấy vòng nữa rồi cút hẳn. Lúc bấy giờ chúng tôi mới biết một tiểu đoàn tân binh gồm: Lào cai,Tuyên Quang và Vĩnh Phú vào bổ xung cho trung đoàn 66 .Vượt sông Pô-Cô không may bị L19 phát hiện, gọi bom và trực thăng vây đánh, số lính mới chưa trải qua chiến đấu bỏ chạy tán loạn. Một số bị địch thả trực thăng bắt sống, số còn lại hy sinh khá nhiều. Khi những người lãnh đạo chủ quan, khinh địch thì rõ ràng tổn thất là rất khó tránh khỏi.Một đội hình lớn hành quân qua bãi tráng như sông Pô-Cô lại không có biện pháp vượt sông an toàn.Việc này người lãnh đạo tổ chức chỉ huy, đưa đón tân binh phải ra toà án binh mới đúng.Hôm sau đại đội tôi tiếp nhận thêm mấy chiến sỹ mới mặt cắt không còn giọt máu. Họ bảo: Bạn của em bị bắt sống liệu có việc gì hay không? Tôi an ủi:Thì mình là tân binh đã biết cái gì đâu mà địch tra tấn, khai thác. Quá lắm là khai họ, tên quê quán và đoàn đi nam là hết phim chứ gì.Thôi kệ nó, đâu khác vào đấy, khéo nó lại ra bắc trước ông cũng nên.Chuẩn bị cho cái tết 1972 đạt đội tổ chức cho một đội đi săn bắn thú rừng và đánh cá. Săn thú phải chọn những cao thủ người dân tộc, đã từng săn bắn nhiều rồi, họ mang theo súng đạn, tư trang, gạo nước và chốt luôn ở trên rừng. Bắn được con nào là phay luôn ra, cho lên lò xấy khô, đầy gùi thì hành quân về đại đội.Tôi xung phong đi theo đoàn quân đánh cá, sáng đi, tối về .Hành trang của chúng tôi là mấy quả thủ pháo và lựu đạn tấn công, đi xuôi theo con suối đại đội đóng quân, ra phía đường xe thồ mà B52 đánh hôm nọ, gặp một con suối khá lớn. Mùa khô nước xuống thấp, trong vắt, đứng trên bờ phía mặt trời nhìn xuống các gợn thác, từng đàn cá lấp loá ánh bạc đang vượt dòng. Ði xuôi xuống hạ lưu gặp một vũng nước khá lớn, chúng tôi hạ trại chuẩn bị bộc phá.Huy cầm trái thủ pháo, giật nụ xoè quăng xuống suối, (Tiến cáo) rút quả lựu đạn ném theo. Sau hai tiếng nổ tung nước trắng xoá, chúng tôi chạy xuống bờ nước. Mấy con cá nổi trắng vật vờ. Cởi quần áo ra, nhảy xuống đi! Chúng tôi tồng ngồng lao xuống suối.Tôi lặn xuống mở mắt ra, cá trắng xoá tụm lại ở những dòng nước xoáy, cứ thế nhặt ném lên bờ. Bỗng Huy bảo: Có con gì này! Huy lặn xuống và vác lên một con ba ba khoảng vài chục cân. Mai của nó đã bị bộc phá đánh dập. Ôm ba ba lên, Huy bảo: Tôi lặn xuống đứng trên mai của nó cứ tưởng là hòn đá- Quái sao đá lại thấy loang lổ như vết máu- Lặn lần nữa thì đúng là con ba ba thật, giống này đã dập ruột rồi ăn vào là bị đau bụng đấy!Buổi chiều chúng tôi lục tục trở về, tôi được phân công đeo con ba ba ấy.Chấm dứt thời kỳ phát nương, chúng tôi chuyển hậu cứ về gần sân bay Kà-Leng ăn tết.



