Những ngày đầu ra biên giới năm 1979
Sau mùa xuân năm 1975, đất nước được giải phóng hoàn toàn, non sông thu về một mối. Tuy nhiên, hòa bình chưa được bao lâu thì các thế lực thù địch tiếp tục gây chiến. Ở phía Tây Nam, quân và dân ta phải làm nhiệm vụ giúp nhân dân Campuchia chống lại chế độ diệt chủng. Đến cuối năm 1978, tình hình biên giới phía Bắc trở nên căng thẳng.

Đầu năm 1979, quân xâm lược Trung Quốc tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta, tại nhiều tỉnh như Hoàng Liên Sơn, Hà Quảng, Cao Bằng…, với âm mưu tiến sâu vào nội địa, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Trước tình hình đó, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước, lệnh tổng động viên được ban hành, kêu gọi thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Khi ấy, tôi là một đoàn viên thanh niên, luôn tâm niệm lời dạy của Bác Hồ:
“Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên.”
Với nhận thức và trách nhiệm của tuổi trẻ, tôi đã viết đơn tình nguyện xin nhập ngũ, mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp bảo vệ quê hương, đất nước.
Nguyện vọng của tôi đã được chấp nhận. Ngày 24 tháng 2 năm 1979, tôi chính thức được gọi nhập ngũ. Trong những ngày đầu lên đường, tôi nhận được sự động viên, tiễn đưa của Đảng ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã Đoan Hạ (cũ) cùng gia đình và người thân. Những tình cảm đó đã tiếp thêm cho tôi niềm tin và nghị lực để cùng bao thanh niên khác hăng hái lên đường làm nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc.
Ngày đầu tiên, chúng tôi được Hội đồng Nghĩa vụ quân sự xã đưa đến nơi tập kết tại xã Hưng Hóa. Sau một đêm nghỉ lại, đơn vị bộ đội chủ lực thuộc Quân khu 2 tiếp nhận quân, cấp phát tư trang cá nhân và giao nhiệm vụ hành quân bộ hơn 50 km lên xã Hà Lộc, tỉnh Phú Thọ.
Trên vai đeo ba lô nặng, trời nắng gắt, lại chưa từng đi bộ xa như vậy, chúng tôi ai cũng mệt mỏi, mồ hôi ướt đẫm quần áo. Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ phía trước, tất cả vẫn cố gắng vượt qua. Ngày 27/2/1979, chúng tôi đến xã Hà Lộc, vào đơn vị C11, E19, F313 Quân khu 2.
Ngay ngày hôm sau, 28/2, chúng tôi bắt đầu huấn luyện sử dụng súng đạn. Dù phần lớn anh em chưa từng tiếp xúc với vũ khí, nhưng ai cũng tích cực học tập và nhanh chóng làm quen.
Đêm 28 rạng sáng 29/2/1979, trời mưa bão lớn, đơn vị nhận lệnh cơ động gấp ra biên giới. Tất cả nhanh chóng thu dọn trang bị, lên xe hành quân tiến về phía Bắc. Trên đường đi, nhiều nơi vẫn còn dấu tích của chiến tranh: cầu cống bị phá hủy, nhà cửa hoang tàn, không khí chiến tranh vô cùng căng thẳng.
Sau một thời gian đóng quân tại xã Việt Lâm, chưa đầy một tháng, chúng tôi tiếp tục nhận lệnh hành quân hơn 30 km, lần này mang theo vũ khí thật. Đêm hành quân, đơn vị dừng chân tại một bệnh viện sơ tán vắng bóng người. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục di chuyển đến khu doanh trại tạm bằng tre nứa để nghỉ và huấn luyện.
Đến tháng 5 năm 1979, tôi được đơn vị cử đi học lớp sơ cấp ngành y trong 9 tháng. Sau khóa học, tôi trở lại đơn vị, vừa huấn luyện, vừa tăng gia sản xuất. Cuộc sống khi ấy rất khó khăn, lương thực chủ yếu là hạt bo bo, hạt mì luộc, nhưng tinh thần chiến đấu luôn vững vàng.
Qua quá trình rèn luyện và phấn đấu, đến tháng 4 năm 1981, tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam — một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời người lính của tôi.
Nhìn lại những ngày đầu nhập ngũ năm 1979, ông Phạm Hữu Sự xúc động chia sẻ rằng, đó là quãng thời gian tuy đầy gian khó nhưng cũng là những tháng ngày rèn luyện quý giá nhất của tuổi trẻ. Từ một thanh niên chưa từng rời xa quê hương, chưa quen với hành quân đường dài hay sử dụng vũ khí, ông cùng đồng đội đã nhanh chóng trưởng thành trong môi trường quân đội, học cách chịu đựng gian khổ, đoàn kết và sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ.
Việc được cử đi học ngành quân y và sau đó vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 4 năm 1981 là niềm tự hào lớn lao đối với ông. Theo ông, đó không chỉ là sự ghi nhận cho quá trình phấn đấu của bản thân mà còn là động lực để ông tiếp tục nỗ lực nhiều hơn nữa trên chặng đường phía trước.
Ông Sự nhớ lại: “Những năm tháng đầu trong quân ngũ đã rèn luyện cho tôi ý chí kiên cường, tinh thần kỷ luật và lòng yêu nước sâu sắc. Chính những trải nghiệm ấy đã giúp tôi vững vàng bước vào những nhiệm vụ chiến đấu ác liệt sau này nơi tuyến đầu biên giới.”
Những ký ức về ngày đầu lên đường nhập ngũ, những bước chân hành quân đầu tiên và những tháng ngày huấn luyện gian khổ đã trở thành nền tảng quan trọng, hun đúc bản lĩnh của người lính trẻ năm nào. Đó cũng chính là hành trang tinh thần để ông cùng đồng đội tiếp tục bước vào những năm tháng chiến đấu đầy thử thách ở các chiến trường phía Bắc trong giai đoạn tiếp theo.


