Những ngày đêm chiến đấu quyết tử tại Liên khu I Hà Nội năm 1946 -1947
Một vài năm trước, trong những lần đi gặp gỡ, tìm lại các nhân chứng lịch sử - những người đã trực tiếp chiến đấu chống Pháp tại mặt trận Hà Nội trong 60 ngày đêm cuối năm 1946, đầu năm 1947, chúng tôi đã may mắn gặp Đại tá Nguyễn Trọng Hàm - Nguyên quyết tử quân Hà Nội, chiến đấu tại mặt trận Hàng Thiếc, Nguyên Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô, Trưởng Ban Liên lạc các chiến sĩ Quyết tử Liên khu I Hà Nội, Trung đoàn Thủ đô. Những câu chuyện Ông kể lại giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về cu
Liên khu I - vị trí quan trọng, trung tâm của Thủ đô Hà Nội.
Liên khu I nằm ở đông bắc Hà Nội gồm phần lớn đất đai thuộc quận Hoàn Kiếm hiện nay. Phía Đông là sông Hồng, giáp với Gia Lâm. Phía Tây từ phố Phan Đình Phùng, qua phố Phùng Hưng tới Cửa Nam giáp với Liên khu III. Phía Bắc là Hồ Tây đến Ô Yên Phụ chạy thẳng ra sông. Phía Nam từ Cửa Nam - Tràng Thi - Tràng Tiền - Nhà Hát lớn đến bến Phà Đen, giáp giới với Liên khu II.
Hà Nội năm 1946-1947 có 17 khu hành chính, riêng Liên khu I có 7 khu và 1 xã bãi sông Hồng gồm: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Long Biên, Hồng Hà và Phúc Xá (bãi giữa sông Hồng).

Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19-12-1946. (ảnh chụp Bảo vật quốc gia)
Đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, Nhà nước, có nhiều di tích lịch sử và văn hóa, nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất, nơi tập trung đông dân cư nhất của Hà Nội. Liên khu I có địa hình, địa vật thuận lợi để tổ chức một trận địa phòng ngự tốt, có tác dụng thu hút lực lượng quân Pháp vì ở ngay sát nơi địch tập trung quân là Thành cổ, giáp với khu vực Pháp đóng quân ở Đồn Thủy. Nhà cửa san sát nhau, có thể đục tường thông nhà tạo nên một trận đồ bát quái, mỗi căn nhà thành một vị trí chiến đấu, mỗi dãy phố hay khối phố thành một pháo đài, một phòng tuyến chiến đấu.
Liên khu I là tiểu biểu nhất cho cuộc chiến đấu ở Thủ đô.
Ngay sau tiếng súng đầu tiên tấn công quân Pháp, từ ngày 20 đến 24-12-1946, địch phản công đánh chiếm các cơ quan đầu não của Chính phủ và các vị trí quan trọng, giải tỏa các đường giao thông ở Liên khu I nối từ Thành cổ đến khu vực Đồn Thủy, sang Gia Lâm, cắt Liên khu I thành 3 khu vực phía Bắc và phía Nam, chiếm Ô Yên Phụ, khống chế cửa ngõ phía Bắc với bên ngoài. Quân ta phục kích các mũi tiến công của địch, tấn công tiêu hao và tiêu diệt địch rồi rút để bảo toàn lực lượng.

Quyết tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh", năm 1946. (Ảnh tư liệu)
Từ ngày 24 đến 30-12, quân ta tập kích một số vị trí của địch, trụ lại ở 3 khu phố Đồng Xuân - Đông Thành - Đông Kinh Nghĩa Thục và một phần khu Hoàn Kiếm còn lại. Trong 10 ngày đầu, địch tập trung lực lượng tấn công khu vực Bắc Bộ Phủ. Tại đây, địch tập trung lực lượng đông cả quân số lẫn vũ khí, phương tiện cơ giới kết hợp hỏa lực pháo binh, không quân. Địa hình ở đây là những đường phố rộng, nhà cửa bề thế, độc lập và tách rời nhau cho nên xe tăng địch vẫn cơ động dễ dàng, phát huy được hoả lực. Sau 10 ngày chiến đấu, ranh giới giữa ta và địch như sau:
Phía Nam từ ngã tư Hàng Bông - Hàng Da - Quán Sứ trở về dọc phố Hàng Gai - Đinh Tiên Hoàng - Hàng Dầu đến phố Hàng Thùng, địch chiếm bên dãy số lẻ gồm hiệu sách Tân Dân - nhà Asia, hiệu thuốc Noóc Man, hiệu buôn Chí Lợi, hiệu thuốc Mai Lĩnh, Sở Thủy lâm (Sở Văn hóa Thông tin hiện nay), Nhà Giao thông Công chính.
Phía Bắc là phố Hàng Đậu, địch đóng quân ở đầu phố Phan Đình Phùng đến ga đầu cầu Long Biên.
Phía Tây, từ Hàng Da qua Hàng Điếu, Hàng Gà lên Hàng Cót, địch đóng ở Nhà thờ Tin lành dọc phố Phùng Hưng đến đầu phố Phan Đình Phùng.
Phía Đông là đường đê sông Hồng, hai đoạn phố Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải, địch đóng chốt ga đầu cầu Long Biên và Nhà Giao thông Công chính. Ngoài đê, địch đóng ở bên đê sông Hồng, bến Phà Đen và từ cầu Long Biên địch đã kiểm soát các khu Hồng Hà và Long Biên. Ta bỏ trống khu Long Biên, nhưng tự vệ vẫn bám sát ở Yên Phụ, khu Hồng Hà, khu Phúc Xá, bãi giữa sông Hồng.
Tại thời điểm này, để thống nhất lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang, Trung đoàn Liên khu I được thành lập vào ngày 6/1/1947 và là Trung đoàn đầu tiên được thành lập ở Thủ đô trong lửa đạn của cuộc kháng chiến. Hội nghị Quân sự toàn quốc họp ngày 12/1/1947 quyết định tặng Trung đoàn đóng giữ Liên khu I với danh hiệu Trung đoàn Thủ đô.

Chiến sĩ Quyết tử thuộc Trung đội 2, Tiểu đoàn 102, Khu Đông Thành - Liên khu I, năm 1946. (Người thứ 4, từ trái sang là Trung đội trưởng Nguyễn Trọng Hàm).
Trận địa Liên khu I với những đường phố ngõ ngách chật hẹp, tuy bị địch bao vây tứ phía, nhưng các chiến sĩ ta cảm thấy không bị cô lập, vì hàng ngày những trận đạn pháo từ các trận địa Láng - Xuân Canh - Xuân Tảo vẫn liên tục nã vào các vị trí của địch. Tiếng súng tập kích của các chiến sĩ ta ở Liên khu II, Liên khu III vẫn nổ, đường giao thông liên lạc từ ngoại thành vào vẫn thông suốt, liên lạc bằng vô tuyến điện với cấp trên vẫn duy trì ổn định liên tục. Quân ta dùng nhiều cách đánh khác nhau, ít tốn đạn nhưng có hiệu quả, thương vong không đáng kể. Các chiến sĩ tự vệ có sáng kiến thành lập nhóm “bắn tỉa săn Tây”, tận dụng đạn moóc-chi-ê của địch bắn không nổ, khoan thân đạn để đặt kíp nổ và dây cháy chậm, dùng đốt tấn công các điểm chốt giữ của địch. Để tiết kiệm đạn dược của ta và tiêu hao đạn dược của địch, các chiến sĩ ta đã dựng pháo ném, pháo đùng thay tiếng nổ lựu đạn hoặc cho các bánh pháo vào thùng sắt tây đốt giả tiếng súng liên thanh. Mỗi lần như thế địch bắn trọng liên như đổ đạn nhưng chẳng sát thương được chiến sĩ nào của ta, dùng các mũ sắt Nhật vận động trong giao thông hào nghi binh tiêu hao đạn dược địch, bí mật tập chung chăn màn đổ xăng tiêu hủy vị trí địch chiếm đóng, hoặc dùng vũ khí thô sơ tiêu diệt địch.
Qua các trận đánh nhỏ, các chiến sĩ được thử thách thêm, gan dạ và đoàn kết gắn bó hơn trong chiến đấu. Ban đêm, ta hoạt động tập kích các vị trí địch, ngày vừa canh gác vừa rút kinh nghiệm và bàn bạc kế hoạch chuẩn bị các trận đánh tiếp theo. Cứ như vậy, lực lượng của ta được bảo toàn, một bộ phận sinh lực địch đã bị ghìm chân.
Sau gần 1 tháng như vậy, ngày 13-1-1947, tại Ô Chợ Dừa, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến khu XI, Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Hoàng Hữu Nam - Thứ trưởng Bộ Nội vụ được Chính phủ ta ủy quyền gặp đại diện chỉ huy quân Pháp. Tham dự cuộc gặp còn có Sulivan - lãnh sự Mỹ, Wilson - lãnh sự Anh, Vương Từ Kiên, lãnh sự Trung Hoa đã thảo thuận giải quyết việc tản cư ngoại kiều và nhân dân ra khỏi vùng chiến sự và ngày 15-1, lệnh ngừng bắn được thực hiện. Ngoài ra, đêm 14-1-1947, ta đã tranh thủ đưa một số cán bộ và chuyển thương binh theo đường bí mật ra ngoài an toàn.
Ngày 27-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư biểu dương tinh thần chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô. Người viết: “Các em là đội cảm tử, các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tối mùng một Tết Đinh Hợi, ta còn có sáng kiến tổ chức bữa tiệc mừng xuân mời các lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Hoa và một số đại biểu Hoa kiều nhằm mục đích bóc trần luận điệu bịp bợp, huênh hoang của Pháp như “Việt Minh đang bị khốn quẫn, chết đói dần mòn”. “Quân Pháp đã làm chủ tình thế ở Hà Nội”.

Đường hào hình chữ chi để cản xe tăng Pháp tiến vào Hà Nội, năm 1947.
Từ sau tết nguyên đán, cuộc chiến đấu ở Liên khu I đi vào giai đoạn gay go, quyết liệt nhất. Quân Pháp được tiếp thêm lực lượng, vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh từ Hải Phòng lên với ý đồ đánh bật các đơn vị của ta ra khỏi các cửa ô và mở nhiều trận tiến công nhằm chiếm thêm các khu vực, khép chặt thêm vòng vây xung quanh liên khu I nhằm chia nhỏ liên khu I và tiêu diệt toàn bộ Trung đoàn Thủ đô. Thực tế, ngày 6-2-1947, chúng tiến quân vào đánh vào các vị trí của ta phía đông nam Liên khu I như: nhà Sôva (trường Nguyễn Huệ) và ngày 7-2, địch tập trung đánh vào Trường Ke (Trường Trần Nhật Duật) - một vị trí chốt giữ, bảo vệ cửa ngõ liên lạc tiếp tế giữa Liên khu I với bên ngoài. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt mang tính sống còn nhưng ta vẫn giữ được. Bị thất bại ở hướng đông nam khu Đông Kinh Nghĩa Thục, quân Pháp quay sang tấn công vào hướng tây nam khu Đông Thành. Trong những ngày ta và địch đánh nhau tại nhà Sôva và Trường Ke, máy bay và đại bác của địch dội bom đạn vào khu vực Tây Nam khu Đông Thành tàn phá phố Hàng Thiếc, Hàng Mành, Hàng Hòm, Hàng Đào, Hàng Quạt kết hợp dội xăng đốt cháy các dãy phố. Trong 2 ngày mùng 8 và 9-2-1947, ta tiêu diệt gần 100 tên và giữ vững trận địa.
Sau đó địch chuyển hướng tiến công và lần này, chúng chuẩn bị đầy đủ hơn đánh vào khu hiểm yếu: khu Đồng Xuân với ý đồ sau khi chiếm được khu chợ Đồng Xuân có thể chọc thẳng vào Trung tâm Liên khu I từ phố Hàng Ngang - Hàng Đào ra tới bờ hồ Hoàn Kiếm, cắt đôi Liên khu I. Tại những vị trí đối diện với ta, chúng lui quân về phía sau và trong 3 ngày 11, 12, 13-2-1947, chúng tập trung hỏa lực dội pháo tàn phá các phố Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Giấy, Hàng Khoai, Hàng Đường, Hàng Chiếu. Máy bay của địch còn ném bom vào các phố Ngõ Gạch, Hàng Bạc, Mã Mây, Hàng Mắm vì chúng nghi là chỉ huy sở của Trung đoàn Thủ đô. Mờ sáng ngày 14-2-1947, địch tập trung hỏa lực đánh phá khu vực chợ Đồng Xuân và vùng lân cận, kết hợp ném truyền đơn kêu gọi ta đầu hàng. Quân Pháp có 1 tiểu đoàn lính lê dương mũ đỏ gồm 400 tên, cùng 5 xe tăng yểm trợ từ nhiều hướng tấn công vào khu chợ Đồng Xuân. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt kéo dài liên tục 6 giờ. Đến tối, địch đó chiếm được dãy số chẵn phố Hàng Chiếu và Hàng Mã, ta tiêu diệt gần 200 tên.
Sau 3 đợt tấn công của địch, địa bàn Liên khu I bị thu hẹp. Số lương thực còn lại cho toàn Trung đoàn chỉ đủ cho 5 ngày, số đạn cho mỗi khẩu súng trường chỉ còn lại 7-8 viên. Để bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài, tối ngày 17-2-1947, toàn Trung đoàn vượt vòng vây dày đặc của địch qua sông Hồng rút khỏi Thủ đô an toàn, toàn thắng không thiếu một người, không thiếu một cây súng.

Các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô hoàn thành cuộc rút quân “thần kỳ”, tập trung tại làng Thượng Hội, Đan Phượng, Hà Tây, ngày 22-2-1947.
Kết hợp giữa tác chiến với đấu tranh ngoại giao và đấu tranh chính trị, cuộc chiến đấu anh dũng và kiên cường của quân và dân Liên khu I là đỉnh cao của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính ở Thủ đô. Liên khu I được xây dựng thành chốt thép kiên cường ở trung tâm Thủ đô, thu hút và kiềm chế lực lượng quân đội Pháp, giam chân địch dài ngày trong thành phố, cùng phối hợp với Liên khu II, Liên khu III và các tiểu đoàn 145, 77, 212, 523 Vệ quốc đoàn và tiểu đoàn 56 Hà Đông đánh địch từ ngoài vào gây bị động cho quân Pháp.
Tiêu hao sinh lực địch, giam chân quân Pháp trong suốt 60 ngày đêm để tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang thời kỳ chiến tranh, Hà Nội mà tiểu biểu là Liên khu I đã hoàn thành xuất sắc nhiệm được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó, trở thành một điểm sáng lịch sử trong trận tổng giao chiến đầu tiên với quân đội thực dân Pháp.
Thắng lợi của trận đánh mở màn cho toàn quốc kháng chiến ở Thủ đô Hà Nội, trong đó có Liên khu I đã tạo niềm tin cho cả dân tộc bước vào trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.



