Cựu chiến binh

NHỮNG NGÀY GIAN KHỔ

“Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, lúc đó thép trở nên không hề biết sợ. Cái quý nhất của con người là cuộc sông, là danh dự sống. Bởi vì đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ti tiện đớn hèn bị mọi người khinh bỉ. Để khi nhắm mắt xuôi tay, ta luôn có thể tự hào rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta , ta đã dâng hết mình cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời. sự nghiệp đấu tranh giải phóng

Bắc Ninh01/04/2026VŨ PHƯƠNG LINH (TRƯỜNG THCS YÊN LƯ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Có nơi nào như Tổ Quốc chúng ta

Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ

Khi giặc đến vạn người con quyết tử

Cho một lần Tổ Quốc được sinh ra.”

(“Thêm một lần Tổ Quốc được sinh ta” – Nguyễn Việt Chiến)

Trong những mảnh kí ức nhỏ nhặt của dòng lịch sử, em từng nghe một câu chuyện thế này: “ Ông mình kể ngày xưa trong chiến tranh, thì mỗi ngày người lính sẽ được phát cho cơm nắm để ăn. Nhiều khi cơm nắm xong thi đã không còn người để ăn nữa. Sau mỗi trận đánh thì sẽ có những người năm xuống. Nắm cơm để lại không ai ăn, người lính bị thương không ăn nổi, người lính mệt quá cũng không nuốt trôi, những người còn sống sót quá ám ảnh về sự ra đi của đồng đội cũng không nuốt trôi nổi. gạo đã nấu thành cơm nhưng cơm thì không có ai ăn hết. Thế nên mới có câu là “kẹo thiếu cơm thừa”. Họ đã sống và chết giản dị và bình tâm. Không ai nhớ mặt đặt tên, nhưng họ đã làm ra đất nước.”. Những lời nghẹn ngào ấy như khắc sâu vào tâm hồn mỗi người một cảm xúc xót xa, biết ơn, trân trọng và nhiều hơn thế là long yêu nước vẫn luôn cháy bỏng trong lòng người con đất Việt.

Đầu năm 1979, ông Vũ Văn Liên theo tiếng gọi của Tổ Quốc mà lên đường nhập ngũ. Ông là một trong những chiến binh của đơn vị D12-E108-F337(Tiểu đoàn 12 (D12), thuộc Trung đoàn 108 (E108), nằm trong biên chế của Sư đoàn 337 (F337) - Quân khu 4/Quân khu 5). Trên những trang báo vẫn hay gọi Sư đoàn 337 là “cánh cửa thép” bảo vệ biên giới phía bắc ở Lạng Sơn.Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc đã lùi xa 47 năm, nhưng những ký ức về cuộc chiến khốc liệt này vẫn còn khắc ghi trong ký ức của những người lính năm xưa. Cuối thập niên 1970, khi đất nước Việt Nam vừa bước ra khỏi chiến tranh, vết thương chưa kịp lành thì biên giới phía Bắc lại rung chuyển bởi tiếng súng. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc huy động lực lượng lớn, đồng loạt tiến công trên toàn tuyến biên giới từ Quảng Ninh đến Lai Châu. Cuộc chiến nổ ra trong bối cảnh vô cùng ngặt nghèo: kinh tế còn kiệt quệ, quân chủ lực đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, nhưng một lần nữa, dân tộc Việt Nam buộc phải đứng lên để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Những ngày đầu chiến sự, hàng loạt thị xã, làng mạc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Móng Cái hứng chịu bom pháo ác liệt. Quân xâm lược với ưu thế quân số, pháo binh và xe tăng ồ ạt tràn qua biên giới. Tuy nhiên, đối diện với họ không chỉ là những đơn vị bộ đội chủ lực, mà còn có dân quân, công an vũ trang, những người dân bình thường khoác súng bảo vệ quê hương và nhiều hơn thế nữa là tình yêu nước mãnh liệt. Chính từ tuyến đầu khốc liệt ấy, tinh thần “toàn dân đánh giặc” một lần nữa được thắp sáng.

Khi nghĩ lại những ngày tháng không liệt ấy, ông khó giấu nỗi đau mất mát nơi đáy mắt, ông kể: “Có những ngày chúng tôi chỉ ăn cơm nắm với muối vừng, nước thì hứng từ khe đá. Ban đêm rét cắt da, ban ngày lại phải bò qua sườn núi để giữ từng điểm cao. Nhưng mỗi khi nhớ về hậu phương ở nhà, lòng chúng tôi lại dâng lên sự kiên quyết lạ thường.” Có lẽ, dù có khổ, có cực tới đâu lời hứa về ngày trở về với mẹ già, vợ và con ở nhà vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường là nguồn động lực lớn cho mỗi nguwoif lính cụ Hồ năm ấy.

Chiến sự diễn ra ác liệt nhất tại các hướng trọng điểm như Đồng Đăng, Lạng Sơn và Cao Bằng. Nhiều đơn vị Việt Nam chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, phải bám trụ từng điểm cao, từng con đường chiến lược. Có nơi, bộ đội ta chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, quyết không rời trận địa. Những làng mạc bị phá hủy, nhiều thường dân thiệt mạng, để lại nỗi đau sâu sắc cho các tỉnh biên giới phía Bắc.

Giọng ôn khàn khàn, mang theo một cảm xúc sâu lắng nghèn nghẹn mà có lẽ chỉ ông mới hiểu được: “Địch đông, pháo mạnh, nhưng anh em không ai rời vị trí. Có đồng đội bị thương vẫn bám súng, có người hy sinh ngay trong chiến hào. Chúng tôi xác định còn người thì còn chốt. Đồng đội hy sinh ngay bên cạnh, nhưng chúng tôi không có thời gian khóc. Chỉ nghĩ một điều: phải giữ cho được đất này.” Cái sự quyết tâm, anh dũng, “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” như khắc vào tâm trí mỗi người lính. Đứng giữa thời bom đạn ấy, mấy ai quan tâm đến ngày mai sống hay chết? Họ chỉ biết hôm nay, giờ phút này họ lại được cống hiến thêm cho bóng hình đất nước.

Trước diễn biến căng thẳng, Việt Nam nhanh chóng điều động lực lượng chủ lực từ hậu phương và từ chiến trường Campuchia ra Bắc, hình thành thế trận phản công. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, lệnh tổng động viên toàn quốc được ban hành, thể hiện quyết tâm sắt đá của cả dân tộc trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền. Chỉ ít ngày sau, Trung Quốc tuyên bố rút quân, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược ngắn ngày nhưng vô cùng khốc liệt.

Sau hơn một tháng chiến đấu, trước sự kháng cự kiên cường của quân và dân Việt Nam, quân Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân vào giữa tháng 3/1979. Tuy nhiên, chiến sự chưa hoàn toàn chấm dứt. Trong nhiều năm sau đó, các cuộc xung đột lẻ tẻ, pháo kích và lấn chiếm vẫn tiếp diễn ở nhiều khu vực biên giới, đặc biệt là tại Vị Xuyên (Hà Giang). Ông Liên tiếp tục ở lại đơn vị, tham gia bảo vệ biên giới trong suốt những năm tháng cam go ấy.

“Chúng tôi hiểu rằng, nếu mình lùi một bước thì sau lưng là làng xóm, là gia đình, là Tổ quốc. Vì thế, dù gian khổ đến đâu cũng không được phép lùi”- ông nói. Có những thời điểm, đơn vị của ông phải sống nhiều ngày trong hang đá, thiếu thốn đủ bề, nhưng tinh thần chiến đấu vẫn không hề lay chuyển.

Hòa bình dần trở lại với vùng biên cương, nhưng những ký ức về một thời đạn bom vẫn in đậm trong tâm trí những người lính năm xưa. Hơn bốn mươi năm đã trôi qua, song mỗi khi nhắc đến cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, đôi mắt người cựu chiến binh Vũ Văn Liên vẫn ánh lên niềm xúc động. “Đó là những năm tháng không thể nào quên. Chúng tôi đã chiến đấu không phải để ghi công, mà để con cháu hôm nay được sống trong hòa bình”- ông chậm rãi nói.

Cuộc đời của những người lính như ông Vũ Văn Liên là minh chứng sống động cho tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Những câu chuyện từ chiến hào biên giới năm 1979 không chỉ là lịch sử, mà còn là ngọn lửa truyền thống, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về giá trị của độc lập, chủ quyền và hòa bình mà dân tộc ta đã phải đánh đổi bằng biết bao máu xương để giành lấy. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà còn là bài học sâu sắc về cảnh giác, về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đó là ngọn lửa được truyền từ thế hệ cha anh, để hôm nay và mai sau, mỗi người Việt Nam đều hiểu rõ trách nhiệm của mình trước vận mệnh Tổ quốc.

“Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, lúc đó thép trở nên không hề biết sợ. Cái quý nhất của con người là cuộc sông, là danh dự sống. Bởi vì đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ti tiện đớn hèn bị mọi người khinh bỉ. Để khi nhắm mắt xuôi tay, ta luôn có thể tự hào rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta , ta đã dâng hết mình cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời. sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Trên ngực áo này khoóng có một tấm huy chương, dưới vạt áo mongt này có một trái tim sâu sắc lắm!” (TBT Nguyễn Phú Trọng). Người ta vẫn hay gọi chiến tranh là thời hoa lửa, nhưng sau danh xưng đầy hoa mĩ ấy mấy ai thật sự hiểu cái khổ của chiến tranh. Hoa lửa được vẽ nên từ máu xương bom đạn của một thời đầy cơ cực khó khăn. Xong những cuộc đời của các cựu chiến binh vẫn luôn là một bản trường ca bất tử trong dong chảy thời gian. Nó khắc ghi vào dòng đời một thời máu đổ thành sông, nỗi đàu chất chông. Ông Liên nhìn vào đôi mắt sáng trong của một thế hệ trẻ đang đứng dưới bầu trời xanh ngát hòa bình, ông nghẹn ngào khẽ nói: “Các cháu hãy nghe lấy, nhớ lấy, mà khắc sâu lịch sử.”. Lịch sử không chỉ là một khoảng trời quá khứ mà còn là sự hy sinh của lớp lớp cha anh để ta được sống, được đi học, được vui cười dưới nền độc lập tươi đẹp lắm. Chỉ mong dù cho có là khi nào, dù cho có ra sao, làm ơn đừng bao giờ quên lịch sử, đừng bao giờ quên những trang sử đỏ của dân tộc, những người đã ngã xuống cho tổ quốc được sinh ra.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn