Bài viết

NHỮNG NGÀY LÀM VIỆC SAU KHI ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

08/08/2026Chi đoàn Trường Tiểu học Trần Quốc Toản ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cùng với niềm hân hoan về bước ngoặt lịch sử của dân tộc Việt Nam trong ngày 2 tháng 9 là biết bao lo toan để giữ vững và củng cố chính quyền non trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam, trong những ngày này làm việc rất căng thẳng vì tình hình trong nước và quốc tế đặt ra những nhiệm vụ hết sức cấp bách. Nhưng phong thái của Người rất ung dung, Người bình tĩnh giải quyết từng nhiệm vụ cụ thể. Người liên tiếp chủ trì các cuộc họp Chính phủ bàn các nhiệm vụ khẩn cấp, gặp gỡ đại biểu nhân dân và viết báo nói về củng cố chính quyền, rèn luyện cán bộ...

Sau ngày 2 tháng 9, Bác chuyển vào ở hẳn trong Bắc Bộ phủ. Nhưng Thường vụ Trung ương vẫn bí mật bố trí cho Bác ở nhà số 8 Lê Thái Tổ, ngay sau nhà Thủy Tạ. Đây là nhà của ông Hồ Đắc Điềm, một nhân sĩ yêu nước. Tại căn nhà bí mật này, sáng sáng, các đồng chí Thường vụ Trung ương đến trao đổi công việc và ăn sáng cùng Bác. Hình thức vừa ăn sáng, vừa trao đổi công việc được thực hiện rất đều đặn, khiến cho không khí buổi họp đầm ấm như một cuộc nói chuyện trong gia đình mà Bác là người anh cả. Nhưng cũng có hôm, Bác ăn và nghỉ lại luôn ở Bắc Bộ phủ để tranh thủ thời gian làm việc.

Lúc đó, đồng chí Khương, tù chính trị ở Sơn La được chọn đến nấu ăn cho Bác. Thường ăn sáng cùng với Bác có ba đồng chí: Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp; thỉnh thoảng có thêm các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Hoàng Hữu Nam. Bữa ăn sáng của Bác thường là cháo hoa với đường cát. Còn các đồng chí khác thì ăn phở hàng rong, do đồng chí Khương mua về. Sau khi ăn xong thường có hoa quả để tráng miệng. Một buổi sáng nọ, đồ tráng miệng là một nải chuối, vẫn còn buộc nguyên lạt đặt trên bàn. Có lẽ, theo tục dân ta "chuối đằng sau, cau đằng trước" cho nên sau khi ăn xong, một đồng chí bẻ một quả đằng sau nải chuối, nhưng không may quả chuối bị nẫu một chút. Đồng chí đó bỏ xuống và bẻ một quả khác phía trước, ăn rất thản nhiên. Khi Bác ăn xong, Bác cầm quả chuối ấy lấy dao cắt bỏ chỗ nẫu rồi ăn và như nói với chính mình: "Ở chiến khu, nẫu nữa cũng ăn". Đồng chí nọ nghe rõ câu Bác nói rất ân hận. Các đồng chí khác coi đây là một bài học không nhỏ.

Bữa ăn trưa ở Bắc Bộ phủ, Bác thường xuống tầng dưới cùng ăn cơm với anh em trong cơ quan. Chỗ ăn là một chiếc bàn dài, Bác thường ngồi ở phía đầu bàn, ai đến sau thì cứ thế ngồi vào và kéo dài cho đến cuối bàn. Một buổi trưa Bác đang dùng cơm thì Cố vấn Bảo Đại đến thăm. Bác vui vẻ hỏi ngài Cố vấn:

-      Ngài dùng cơm chưa?

-      Thưa Chủ tịch, tôi đã ăn rồi.

Cố vấn Bảo Đại nhìn mâm cơm của Bác chỉ thấy có rau muống xào, đậu phụ kho và một bát canh, lại thấy Bác gầy yếu quá, nên Cố vấn thưa:

-      Bữa cơm của Chủ tịch thanh đạm quá. Nếu Chủ tịch cho phép tôi sẽ mang thức ăn Huế đến để Chủ tịch dùng.

Bác thân tình trả lời:

-      Cảm ơn Cố vấn, tôi cùng ăn với anh em thành lệ quen rồi.

Cả buổi tối mồng 2 tháng 9, Bác tập trung chuẩn bị tài liệu cho phiên họp đầu tiên của Chính phủ tổ chức vào sáng 3 tháng 9. Sau "Tuyên ngôn Độc lập", bài phát biểu tại phiên họp này (sau này được cụ thể hóa thành 6 nhiệm vụ cấp bách) được Bác chuẩn bị công phu, trong đó chứa đựng những nội dung mang ý nghĩa to lớn trong việc chỉ ra những việc phải làm để bảo đảm cho sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Đêm đó, Bác thức rất khuya và sáng hôm sau lại dậy rất sớm để bổ sung và sửa thật kỹ những nội dung đã viết. Nhìn dáng người mảnh khảnh, hai mắt trũng sâu, nước da xanh của Bác qua ánh đèn, tôi và anh em phục vụ không cầm được nước mắt. Mỗi nhiệm vụ Bác đều phân tích sâu sắc, từ đó chỉ ra việc làm cụ thể. Bác quan tâm đầu tiên đến việc chống giặc đói với việc phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và theo Bác, "Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo". Bác nghiêm túc thực hiện lời kêu gọi này. Mười ngày lại thấy Bác nhịn ăn một bữa trong khi Bác rất gầy yếu. Tôi nhớ một buổi trưa ở Bắc Bộ phủ, Bác bị cảm. Bác nằm trên đi văng và gối đầu lên đùi tôi để tôi xoa bóp trán. Nhìn Bác gầy rộc, nghĩ đến bao công việc còn chất chồng ở phía trước mà ăn uống không đều đặn, chúng tôi lo cho sức khỏe của Bác nên đề nghị Bác không nên nhịn ăn. Bác ôn tồn nói: "Bác kêu gọi đồng bào 10 ngày nhịn ăn một bữa thì Bác cũng phải gương mẫu nhịn ăn như đồng bào, chứ các đồng chí nói Bác cứ ăn thì làm gương cho ai được?". Lượng gạo quyên góp tuy nhỏ, nhưng nhỏ mà nhiều người góp lại thành lớn. Từ đó đến nay, các đợt quyên góp ủng hộ đồng bào vùng bị thiên tai, hỏa hoạn đã trở thành đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Sau khi phát động chiến dịch tăng gia sản xuất, giải quyết nạn đói của dân, Bác lại băn khoăn và day dứt trước một vấn đề khá nan giải là ngân khố của Chính phủ hầu như trống rỗng. Chúng ta hiểu rõ ý Bác, trong khi có độc lập, tự do, cái giá trị lớn nhất của một dân tộc đã giành được, thì những công việc cấp bách và bộn bề nhất lúc này cũng phải được giải quyết để độc lập, tự do được củng cố. Trong hai ngày 15 và 16 tháng 9, tôi thấy Bác làm việc tập trung một cách khác thường. Có buổi, Bác ngồi liên tục ở bàn viết tới 4 giờ đồng hồ. Chiều ngày 16 tháng 9, khi nhận tài liệu là một bài viết để đăng báo từ tay Bác trao với nhan đề: Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp "Tuần lễ VÀNG" và nhìn những đoạn Bác sửa, tôi thấy Bác thận trọng cân nhắc từng ý, từng câu vì theo Bác: "Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có" và bốn từ "những nhà giàu có" Bác viết đậm hơn. Phải chăng đây là đối tượng quyên góp chính mà Bác quan tâm trong "Tuần lễ VÀNG"? "Tuần lễ VÀNG" đã mang lại kết quả rất tốt và đây cũng là một trong những bài học lấy dân làm gốc mà Bác đã để lại và còn nguyên giá trị đến hôm nay.

Một việc nữa được Bác đặt thành vấn đề lớn và đưa vào chương trình làm việc ngay trong những ngày đầu tiên là việc tiếp dân, vì theo Bác đây là nguyện vọng chính đáng của đồng bào. Nhưng cách tiếp dân của Bác rất thiết thực và cụ thể: phải gửi thư nói trước, mỗi đoàn không quá 10 người và mỗi lần tiếp chuyện không quá một tiếng. Trong một buổi tiếp chuyện, Bác trao đổi cùng đại biểu về xây dựng đời sống mới và sự cần thiết của mỗi người dân thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Có người hỏi Bác:

-      Thưa Cụ, Cụ kêu gọi xây dựng đời sống mới sao lại thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư của Khổng Tử đề ra cách đây đã mấy ngàn năm?

Bác nhìn anh thanh niên rất hiền hậu:

-      Chú nói có lý đấy! Tôi hỏi lại chú nhé! Cơm hàng ngày chúng ta ăn có từ bao lâu rồi? Không khí chúng ta thở có từ bao giờ?

Bác nhìn mọi người, rồi nói tiếp:

-      Thực hiện đời sống mới không phải cái gì cũ đều bỏ hết cả. Những cái cũ mà vẫn thúc đẩy cuộc sống thì cần phải giữ gìn nó. Còn những cái mới thì phải chọn lọc những cái tốt có ích lợi cho mọi người chứ không phải cứ mới là làm không suy nghĩ.

Cách giải thích, so sánh của Bác rất đơn giản và dễ hiểu. Không những đại biểu nọ hết thắc mắc mà những người khác cũng qua đó mà hiểu ra rằng, xây dựng đời sống mới phải từ bỏ lối sống lười biếng, gian xảo, tham ô, phải từ bỏ rượu và thuốc phiện, những thứ mà chế độ thực dân đầu độc nhân dân ta.

Phải chăng, việc tiếp dân do Bác khởi xướng cách đây 55 năm đến nay đã thành nền nếp? Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, hiện nay, chất lượng tiếp dân và hiệu quả giải quyết đơn khiếu nại của dân còn phải cố gắng học tập Bác rất nhiều cho thiết thực và cụ thể.

Công việc tiếp theo được Bác đặc biệt quan tâm là xây dựng, củng cố chính quyền và rèn luyện cán bộ. Các bài viết, đăng trên báo Cứu Quốc (nay là báo Nhân Dân), "Cách tổ chức các Ủy ban nhân dân" ngày 11 tháng 9, "Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà" ngày 17 tháng 9 và bài viết "Chính phủ là công bộc của dân" ngày 19 tháng 9 là những trăn trở của Bác đối với một chính quyền công - nông mới, một chính quyền mà "Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh", là những đòi hỏi của Bác đối với cán bộ về phẩm chất đạo đức, về cách thức điều hành. Vì theo Bác, cán bộ ta khi hoạt động bí mật thì rất thạo, có kinh nghiệm, nhưng ra làm công tác chính quyền, làm cán bộ từ Trung ương đến cấp xã thì rất lúng túng, giữ chính quyền thế nào cũng chưa có kinh nghiệm.

Có một câu chuyện đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ. Một hôm, đồng chí Vũ Anh phụ trách một tổ làm vũ khí ở Cao Bằng về Hà Nội báo cáo với Bác một số việc. Đồng chí Vũ Anh mặc một bộ quần áo lụa mới. Sau khi nghe báo cáo xong, Bác bảo đồng chí Vũ Anh:

-                       Lên trên gác nghỉ với Bác (ở Bắc Bộ phủ chỉ có một căn gác dành riêng cho Bác nghỉ).

Rồi Bác nói:

-                       Sao chú lại mặc quần áo đẹp thế?

Đồng chí Vũ Anh nhanh trí trả lời:

-                       Thưa Bác, đồng bào cho đấy ạ!

Bác ân cần khuyên:

-                       Đồng bào cho cũng không nên mặc. Việt Minh mình mới giành được chính quyền mà cán bộ đã ăn mặc đẹp là không nên.

Các đồng chí cán bộ như hiểu rõ tấm lòng của Bác, trong khi đồng bào ta cơm ăn còn đói, áo mặc còn chưa được lành, thì người cán bộ không nên tạo ra một khoảng cách trong sinh hoạt với quần chúng.

Tôi lại nhớ một câu chuyện khác. Trong một lần ngồi nói chuyện, Bác thấy một đồng chí cán bộ ngồi ghế phía trước rất lúng túng, không để chân bình thường như mọi người mà cứ dúi chân vào dưới gầm ghế. Hóa ra, đồng chí này mang đôi giầy mới. Thấy thế Bác ôn tồn bảo: "Giầy của chú đã hỏng thì chú đóng đôi giầy mới có gì mà phải ngại". Bác thường căn dặn cán bộ không nên coi thường những việc nhỏ. Việc nhỏ mà làm không tốt thì việc lớn làm không xong. Người đã đi xa nhưng những lời khuyên của Người thì vẫn còn đó âm vang từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trong những ngày này, biết bao nhiêu công việc phải lo toan: xây dựng chính quyền, giữ vững chính quyền, cảnh giác với bọn thực dân đang lăm le quay lại xâm lược nước ta, nhưng Bác không quên những ngày lễ, tết, như Tết Trung thu, ngày khai giảng năm học mới. Bác đã gửi thư cho các cháu thiếu nhi nhân Tết Trung thu đầu tiên, gửi thư cho học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc này, với các em học sinh, Bác không còn là một vị chủ tịch của một nước, mà chỉ là người anh lớn gần gũi. Thật kỳ diệu, ngay cả trong khó khăn của những ngày đầu dựng nước, Bác đã đặt lòng tin vào thế hệ trẻ khi Người viết "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em".

55 năm đã trôi qua, thế hệ trẻ Việt Nam với những thành tích rực rỡ trong chiến đấu, học tập, rèn luyện và nhất là kết quả trong các kỳ thi quốc tế về toán, vật lý, hóa... những năm gần đây rất xứng đáng với lòng tin yêu của Bác. Chúng ta đều hiểu, không phải ngẫu nhiên mà tài liệu cuối cùng của Bác trong tháng 9 năm 1945 là thư gửi học sinh, bởi vì lúc nào Bác cũng dành tình cảm và đặt lòng tin vào thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước.

Suốt cả một tháng, sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ bận rộn hầu như suốt cả ngày lẫn đêm, lo toan những nhiệm vụ lớn, nhưng không quên chăm lo cho dân, cho cán bộ từ những việc nhỏ nhất...

Vũ Kỳ (2021). Truyện kể về Bác Hồ - Những chặng đường trường kỳ kháng chiến. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn