MỞ ĐẦU Cánh Đồng Chum - Cao nguyên trung tâm của tỉnh Xiêng Khoảng nằm ở Bắc Lào với độ cao 1.200 mét, chưa kể những núi cao nổi tiếng như Phu Xăn (2.218), Phe Xeo (2.305), Phu Bia (2.919). Trước khi đến Xiêng Khoảng, tôi chỉ được đọc bản đồ địa lý do người Pháp in “Plaine des Jarress” và được nghe câu truyền miệng rằng: “Ai chiếm được Cánh Đồng Chum thì như người cưỡi lên được bành voi, và sẽ làm chủ được nước Lào” (Lan Xạng, đất nước Triệu voi).
Cánh Đồng Chum đã trở thành một điểm mốc luôn gợi tính tò mò thời niên thiếu của tôi. Tôi hằng mơ được đến đó, và rồi chiến tranh đã kéo tôi đến Cánh Đồng Chum. Ở đây, dân địa phương dùng cái tên rất hình ảnh “Khăng má đen” (Đồng cỏ ngựa phi) để đặt cho Cánh Đồng Chum. Đúng là đồng cỏ mà ngựa phi cho khắp thì phải đến đứt hơi. Đây là cả một cao nguyên bao la, đồi thông xen kẽ đồng cỏ và ruộng bậc thang tương đối phẳng, ngang dọc từ 40 tới 60 ki-lô-mét. Quả là một vùng đất rất có thể về mặt quân sự. Chum lưu truyền từ thượng cổ ở đây có bốn cụm. Cụm trung tâm là Lạt Thẳm, nằm về phía đông sân bay Bản Áng 400 mét. Ở đây có một hang đá hình bát úp với một nửa lộ thiên và một cửa mở ra trước mặt núi. Đường kính của hang cao và rộng chừng bốn mét. Đây có thể là hang thiêu người, hoặc cũng có thể là nơi ở của tù trưởng, với dấu vết nửa thiên nhiên, nửa nhân tạo. Chum nằm ngang ngửa quanh cửa hang giữa một bãi núi ngang dọc hơn 600 mét. Hàng trăm chum nhỏ cao độ một mét, một mét hai, rộng gần một mét. Trên sườn núi hơi cao có đá lớn là một bãi chum lớn. Lòng chum đục sâu vào các tảng đá, miệng rộng từ một mét hai đến một mét rưỡi. Chiều sâu có chum từ một mét rưỡi đến hai mét. Không may rơi vào chum, tay không một mình khó lên nổi; đáy chum còn ăn sâu vào lòng núi. Lạt Thẳm có thể là thủ đô của một bộ lạc xưa. Có ngời nói là vùng đất của bộ lạc Chậu Chương. Ngoài cụm trung tâm còn có ba cụm chum, mỗi cụm gồm năm, sáu chiếc đặt ở ngã ba đường rừng từ Bản Ban đi Cánh Đồng Chum; một cụm trên đồi ở vùng núi Bảy Hay, chặn đường vào Xảm Thông - Long Chẹng; một cụm nữa ở trên chỏm Phụ Thing, đường đi Viên Chăn. Chúng tôi nghĩ đây có thể là các điểm tiền tiêu bảo vệ bộ lạc vì đều cách trung tâm từ 50 đến 70 ki-lô-mét.
Có nhiều thuyết nói về chum như là chum ủ rượu làm ma chay, chum rượu khao quân… có lẽ chum đựng rượu, đựng nước thời bộ lạc Chậu Chương là có lí.
“Thuốc phiện Phu Khe, nước chè Phu Xản”. Đây là hai đặc sản của Xiêng Khoảng đã đi vào cuộc sống và thi ca của địa phương. Phu Khe nằm gần thị xã của Xiêng Khoảng, đất tốt, thuốc ngon đến mức người H’mông từ Keo Xẹt cách gần hai ngày đường mà hàng năm vẫn dắt ngựa, cõng con đến Phu Khe hạ trại, xin một đám đất núi trồng thuốc phiện. Còn chè Phu Xản, thời thuộc Pháp, nhiều nhà kinh doanh đã chiết giống chè tuyết ở đây đem trồng ở nông trường Noọng Pết, Noọng Nậm. Trong những năm đánh Mĩ, trèo lên đỉnh Phu Xao (2.305) quanh năm sương mờ mờ, mây phủ, tôi đã được uống loại chè tuyết do các chiến sĩ tình nguyện chế biến còn ngon hơn hương vị chè Phu Xản. Uống xong lưỡi còn vương mãi vị ngọt. Từ đó lính ta đã bổ sung cho Xiêng Khoảng là “thuốc Phe Khe, chè Phu Xản - Phu Xao”.
Xiêng Khoảng có mỏ sắt lớn, có ngọc, có bạc, có đồng. Nhân dân địa phương có nghề luyện thép giỏi, có nghề trồng dâu nuổi tằm, làm giấy gió, làm ô giấy, nuôi cá nước ngọt. Gần đây đã phát hiện và bắt đầu khai thác một số mỏ than để nung vôi, gạch ngói và phục vụ cho các nghề thủ công khác. Đặc biệt Xiêng Khoảng còn nhiều nguồn nước có thác mạnh sẽ là nguồn thủy điện phong phú.
Những đồng cỏ bao la của các huyện Noỏng Hét, Mường Mộc, Mường Khun, Mường Khăm, Mường Pẹch, Mười Xủi, nếu được tổ chức chăn nuôi trâu, bò đúng kĩ thuật mới, lại được chế biến tốt thì sẽ tạo được một nguồn thịt xuất khẩu lớn, một mũi nhọn kinh tế của một tỉnh miền núi.
Trung tâm văn hóa Mường Phuôn là đây. Còn với dân tộc H’mông, đế quốc Mĩ nuôi hi vọng lợi dụng đặc tính giỏi đánh rừng để lập vương quốc Mẹo, xây dựng lực lượng nòng cốt cho “đội quân đặc biệt Hi Mã Lạp Sơn” của vùng Đông Nam Á, phục vụ cho âm mưu nô dịch lâu dài và các dân tộc trong vùng.
Xiêng Khoảng là một tỉnh đa phần dân tộc ít người. Theo điều tra năm 1985, toàn tỉnh có hơn 16 vạn dân với 30 bộ tộc, gồm người Lào chiếm sáu vạn rưỡi, người H’mông hơn năm vạn rưỡi, người Thay hơn hai vạn và Kha Mú một vạn rưỡi, cùng một số bộ lạc khác.
Khi Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào, người H’mông bị chết chóc, hao tổn vì bom đạn, vì bệnh tật, đói khát nhiều nhất. Thật là đau đớn khi phải nhìn cảnh vì bị đế quốc nhồi nhét lòng tị hiềm dân tộc, mà người một nước lại bắn giết nhau vì đồng tiền đánh thuê của Mĩ. Bao giờ sự thật được vạch ra, bao giờ các dân tộc Lào nghe theo lời của Đảng(1) mà chấm dứt cảnh nồi da xáo thịt này?
Nhớ về những năm tháng đánh Mĩ ở Cánh Đồng Chum, tôi muốn kể lại một số sự kiện và những con người đã xông pha lặn lọi bao khúc sông, ngọn suối, leo qua bao núi cao, rừng hiểm - những con người mà chiến công của họ đáng được trân trọng, mến yêu, Lào cũng như Việt đã gắn bó với bản làng, với đất nước, những người mà mồ hôi và xương máu đã đổ xuống, những người đã trở về và cả những người không bao giờ về để tô thắm thêm tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc, hai quân đội Việt- Lào nghĩa nặng tình sâu. Ước muốn thì nhiều nhưng khả năng, trí nhớ của bản thân có hạn, trong khi những sự kiện, nhân chứng đề cập ở đây đã lùi xa. Hơn thế, đây cũng chỉ là những điều ghi nhớ và phát biểu đầu tiên, mong được các đồng chí và đông đảo bạn đọc bổ sung, sửa chữa. Tấm gương chiến đấu của những anh hùng, dũng sĩ, sự nghiệp đất tranh của hai dân tộc Lào - Việt là vĩnh viễn không thể phai mờ và phải được con cháu đời đời tô thắm.
(1) Đảng Nhân dân cách mạng Lào. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2010, 08:14:13 am » | I. VÀO CUỘC Mùa đông năm 1961, chiếc máy bay thuộc phi đoàn vận tải Liên Xô giúp Lào đổ tôi xuống sân bay Bảng Áng (Cánh Đồng Chum), nơi số phận cột chặt tôi suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ của hai dân tộc Việt - Lào. Vào sở chỉ huy A10 (tên mật của cơ quan chuyên môn quân sự Việt Nam tại Lào), gặp các đồng chí Lê Chưởng và Hoàng Sâm, tôi được giao nhiệm vụ Phó tham mưu trưởng A10, giúp Chính phủ Liên hiệp kháng chiến của hai pháo Neo Lào Hắc Xạt và Trung lập Phu-ma. Gặp hai thủ trưởng vốn đã quen biết, tôi tự nhủ: hai vị “Lão tướng” này tuy có nóng tính, nhưng đã dạn dày hoạt động cách mạng và rất độ lượng. Mình sẽ học được ở hai cụ nhiều điều, tận tuy công tác, xông xáo, nhưng chớ hấp tấp chủ quan. Đồng chí Năng, người bàn giao công tác cho tôi còn dặn lại: chớ bảo thủ; cãi cọ nhiều với các cụ, sẽ mệt đấy!
Thời cuộc ở Lào lúc đó đang nửa hòa nửa chiến. Tuy đã buộc phải ký Hiệp nghị Na Mon, nhưng đế quốc Mĩ và tay sai vẫn còn tiếc rẻ nên lửa chiến tranh chưa tắt hẳn. Ở Trung Lào, chúng giành giật, lấn ra đường số 9, đường số 12. Trên đất Xiêng Khoảng, địch tiến công Pha Thơm, Pa Đông, Tom Tiêng; nơi cướp gạo, cướp trâu, nơi giành dân, bắt lính, ra sức phát triển lực lượng đặc biệt Vàng Pao quanh địa bàn đường số 7, số 6, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa.
Ở Bắc Lào, địch tập trung giành giật vùng Na Tơi, Na Mỏ, Nậm Thà. Chính nơi đây quân dân Lào được lực lượng Việt Nam hỗ trợ, Trung Quốc, Liên Xô tiếp tế, làm nên chiến thắng Nậm Thà lịch sử (1962). Chiến thắng Nậm Thà là thất bại mở đầu trong âm mưu xâm lược Lào của đế quốc Mĩ. Nền độc lập trung lập của Lào được Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ năm 1962 công nhận và một Chính phủ Liên hiệp ba phái do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng được thành lập.
Chấp hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, ngày 25 tháng 9 năm 1962, theo lệnh của trên, tôi dẫn đầu đoàn cán bộ tình nguyện và chuyên gia Việt Nam cuối cùng rút khỏi Cánh Đồng Chum.
Về đến Hà Nội, anh Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng giao cho tôi thành lập Phòng 962 trực thuộc Bộ để theo dõi tình hình Lào, giúp Bộ nghiên cứu giải quyết những vấn đề cấp thiết mà bạn Lào yêu cầu và theo sát những âm mưu, hành động mới của đế quốc Mĩ đối với Lào. Anh Tấn nói: “Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mĩ trước thất bại cay đắng này chúng chưa cam chịu và đã bắt đầu phá. Cuộc leo thang chiến tranh của Mĩ ở miền Nam nước ta chắc chắn sẽ kéo theo tình hình Lào… Cậu bàn với Cục Cán bộ rút mộ số chuyên gia và tình nguyện cũ, lập lại bộ phận nhẹ 10 đến 15 người, có thể gọi tắt là “phòng C” của Bộ, xây dựng chức trách, nền nếp cho anh em. Cậu là người đã quen phải giúp cho mình việc này đã!”.
Sau một tháng, ổn định xong tổ chức, tôi cùng Lê Văn là chuyên gia chính trị Tây Bắc, có gửi hơn 200 chuyên gia dự trữ đi học trường văn hóa Lạng Sơn, đưa một số để bổ túc chính trị, quân sự và tiếp nhận số cán bộ của lực lượng Neo Lào Hắc Xạt và Trung lập đi học các trường quân sự của Việt Nam.
Tôi nhớ mãi cuộc nói chuyện với anh Tiến - Chính ủy trường Sĩ quan Pháo binh về khối học sinh Trung lập ở trường này. Anh nói: được nhận nhiệm vụ quan trọng này, chúng tôi đã hứa với Bộ sẽ giúp bạn học thật tốt. Riêng việc ăn uống của anh em, cúng tôi đã tận tâm phục vụ. Ăn ngày hai bữa xôi, một bữa cơm mà lo cho đủ nếp ngon đã là khó! Xôi vò, xôi lạc, xôi đỗ xanh, đỗ đen, xôi gấc…, xôi gì anh em cũng chê. Thậm chí có anh nói với “Việt Nam xã hội chủ nghĩa gì mã cứ bắt ăn độn mãi!”.
Nghe anh Tiến nói vậy, tôi bật cười và giải thích người Lào thích và quen ăn xôi trắng. Các loại xôi vò, xôi đỗ của ta họ không quen nên cho là độn. Tốt nhất từ nay cứ cho ăn xôi trắng là vui vẻ cả. Cần để phiên địch giải thích cho anh em.
Nghe vậy, anh Tiến cười rũ ra. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2010, 08:15:15 am » | Đoàn đại biểu Nhà nước Lào do vua Xi-xa-vang Vat-tha-na và Thủ tướng Phu-ma dẫn đầu đi thăm các nước có tham gia kí Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào vừa đến Viên Chăn thì ngay đêm chiêu đãi đầu tiên, lực lượng tay say Mĩ đã đón đường ám sát ông Ki-nim Phôn-xê-na khi vừa xuống xe bước vào nhà. Ông Ki-nim Phôn-xê-na là lãnh tụ phái Trung lập yêu nước, một dòng họ có tên tuổi, người thực sự tài năng và có uy tín lớn, có quan hệ mật thiết với Neo Lào Hắc Xạt. Giết ông Ki-nim, Mĩ hòng đe dọa, lôi kéo ông Phu-ma và lực lượng Trung lập ngả theo phái Hữu, hòng “dùng hai đánh một”, phá Hiệp định Giơ-ne-vơ, phá Chính phủ Liên hiệp, chống lại Neo Lào Hắc Xạt và những người yêu nước khác. Hành động trắng trợn của đế quốc Mĩ và tay sai buộc mọi người phải cảnh giác, phải bảo vệ các đại biểu của Neo Lào Hắc Xạt có chân trong Chính phủ Liên hiệp, nhất là Phó thủ tướng Hoàng thân Xu-pha-nu-vông.
Phối hợp với việc tăng cường chiến tranh leo thang ở miền Nam Việt Nam, Mĩ gấp rút đưa thêm sĩ quan phản động xen vào, chia rẽ, khủng bố những người yêu nước trong lực lượng Coong-le, chuyển dần một lực lượng quân phái Hữu đến Xiêng Khoảng chuẩn bị một cuộc tiến công bất ngờ đẩy lực lượng Neo Lào Hắc Xạt ra khỏi Cánh Đồng Chum trong mùa mưa năm 1963. Tình hình ngày càng xấu. Sau này qua một vài cán bộ của bạn, tôi được biết: sau khi tính toán kĩ, Thủ tướng Phu-ma đã tổ chức một chuyến bay cùng Hoàng thân Xu-pha-nu-vông ra giải quyết công việc ở Cánh Đồng Chum. Xong công việc, để đề phòng mọi bất trắc, Hoàng thân anh trở về Viên Chăn, Hoàng thân em ở lại Khăng Khay.
Khi nói về đảng phái thì chưa phải đã hết gay cấn, song chuyển sang tình anh em thì phải biết tận dụng hết lợi thế này. Đây là cái hay, cái riêng mà Đảng Lào đã khéo vận dụng một cách tài tình.
Lúc này, tình hình chính trị, quân sự ở chiến trường miền Nam Việt Nam rất sôi động. Tôi lại nhớ về những kỉ niệm cũ của chiến trường Trị - Thiên. Xa cách đã 10 năm, mảnh đất thân thương và những con người đã nuôi mình, đào luyện giúp mình trở thành một cán bộ chỉ huy. Tôi ước ao có được ngày về cùng đồng chí, đồng đội chiến đấu trên chiến trường xưa, góp chút sức mình giải phóng quê hương yêu dấu.
Tháng 9 năm 1963, tôi được lệnh bàn giao Phòng 963 cho Lê Văn để về trường bổ túc văn hóa Quân khu 4. Khi đến chào anh Lê Trọng Tấn, anh dặn: “Về đấy học văn hóa hay giúp việc gì là tùy Quân khu phân công, nhưng thu xếp sẵn sàng đề khi chuẩn bị chiến trường miền Nam, mình sẽ đem cậu đi cùng…”. Sung sướng quá, càm được quyết định là tôi đi ngay chuyến xe lửa trong đêm.
Đến Quân khu, ra mắt Tư lệnh Quân khu - Nam Long và Chính ủy Hoàng Văn Thái, tôi được giao quyền Tham mưu trưởng Quân khu, thay anh Bùi Sinh đi học. Nhận công tác, tôi lao vào việc huấn luyện và trang bị cho một tiểu đoàn chuẩn bị đi Nam với hi vọng được trở lại chiến trường cùng đơn vị này.
Đầu tháng tư, sau một buổi giao ban, Tư lệnh Quân khu Nam Long đưa tôi xem bức điện ngắn của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gửi Quân kihu: “Cho đồng chí Bình Sơn bàn giao công tác ngay. Sẽ có phái viên của Bộ vào truyền đạt nhiệm vụ đi công tác xa”. Đọc bức điện, tôi thấy băn khoăn, nửa mừng nửa lo. Mong là chắc chắn được ra mặt trận, nhưng lo là có thể không được đi theo anh Lê Trọng Tấn. Cái ước vọng vào Nam trực tiếp đánh Mĩ e không đạt!
Chiều hôm sau, đoàn của Lê Văn đến. Trông thấy Lê Văn, tôi biết ngay là đi Lào rồi. Không phải chờ đọc quyết định, tôi tự an ủi: thế là số phận đã quyết!
Thực lòng, tôi muốn được vào Nam đánh Mĩ; nguy nan gian khổ, chia ngọt sẽ bùi quen rồi. Nay sang đất bạn lại làm chuyên gia, mọi cái đều phải nghiên cứu, nhiều chuyện phải làm lại từ đầu: chiến tranh nhân dân trên đất bạn, giúp công tác mặt trận liên minh quân sự giữa hai lực lượng vũ trang Neo Lào Hắc Xạt và Trung lập yêu nước, vấn đề giải quyết phỉ vùng dân tộc…
Thế là “vào cuộc” từ đây, ở một lĩnh vực công tác khác. Cũng đánh Mĩ nhưng mà làm chuyên gia quân sự giúp bạn.
Đoàn chuyên gia được thành lập. Tôi được chỉ định là đoàn trưởng, Lê Văn làm chính ủy. Giúp hậu cần có Tả Đảo. Điện đài có Thành đài trưởng và Nhự cơ yếu đã có kinh nghiệm độc lập, thái độ công tác khá kiên nhẫn. Chuyên gia đơn vị có Danh và Tín giúp Tiểu đoàn 2. Chuyên gia Tiểu đoàn 1 có Tình và Mai (với biệt hiệu Mai đen). Chuyên gia Tiểu đoàn 24 là Phúc và Thưởng, Tiểu đoàn 13 có Ngoại. Giúp Tiểu đoàn 500 có Trà, giúp Pa Chay có Nhất và Tứ; giúp pháo binh lúc đầu chỉ có Nghĩa (tức Nghĩa lé). Đến Khăng Khay sẽ có thêm Trương Đình Toàn tham tán quân sự, Hoa Thành tuyên truyền báo chí, Thanh chuyên gia xe. Tổ chuyên gia tỉnh đội có Tăng, Mão và Nhai đài trưởng thông tin. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2010, 08:15:50 am » | Sắp xếp cho anh em xong đâu vào đó, tôi về nhà tạm biết gia đình để lên đường.
Phải chia xa gia đình, cũng như bao người tôi không dễ gì gạt bỏ được tâm trạng lưu luyến bịn rịn. Bé Hà Lương - con gái đầu lòng không muốn rời tay tôi. Sau khi động viên vợ vài câu như một chút bản năng, tôi vột vã chia tay người thân. Đoàn phải đi gấp theo đường số 7, để đuổi kịp Quân khu trưởng - tướng Phun-xi-pa-xớt và Tiểu đoàn 2 anh hùng từ Sầm Nưa được tăng cường cho Cánh Đồng Chum. Hành quân càng về trưa, nắng càng gắt, đường thêm nhiều gió, cát. Đến Khe Choang huyện Con Cuông, chúng tôi ghé vào khu doanh trại cũ của Tiểu đoàn 925 thăm Tiểu đoàn 2, thăm hỏi sức khỏe của của anh em, thăm đồng chí Nhưm chính trị viên tiểu đoàn và tiểu đoàn phó Xiêng-tao, thăm Tín, Danh, Quyên. Được tin đồng chí Phu-xi-pa-xớt đã đi thẳng lên biên giới, đoàn phải đi luôn. Chiều hôm sau, xe đến Nậm Cắn. Chúng tôi gặp đồng chí Phun-xi-pa-xớt ở doanh trại đơn vị biên phòng Nậm Cắn. Anh Phun dáng người tầm thước khỏe mạnh. Bộ râu rậm cạo nhẵn làm khuôn mặt anh khiêm nhường dễ mến. Tôi chưa làm việc nhiều nhưng đã được gặp anh trong các cuộc đón tiếp, hội họp ở Cánh Đồng Chum năm 1963. Gặp anh, tôi nhận ra ngay phong độ của một con người luôn trầm tĩnh, thận trọng, một nhà quân sự đánh Pháp từ Hạ Lào, một nhà ngoại giao chặt chẽ và sắc sảo mà các sĩ quan Trung lập và phái Hữu đều phải nể bởi sự nhạy cảm và cẩn thận trong tiếp xúc.
Chúng tôi trao đổi qua về chương trình hoạt động trong mấy ngày đi đường và phải đợi thêm một ngày nữa cho đoàn xe vận tải quân sự chở Tiểu đoàn 2 và gạo, đạn.
Đồn biên phòng Nậm Cắn đặt giáp đường biên giới giữa hai vùng khí hậu khác nhau. Bên Việt Nam là nắng hanh, cát bụi, lúc nào cũng hầm hập nóng. Ai qua suối cũng đều muốn nhảy xuống tắm. Trái lại, bên đất Lào ban ngày nổi giông, chiều tối đổ mưa.
Cùng dựa vào Trường Sơn nhưng Nghệ - Tĩnh thì bước vào nắng hạ, ngược lại Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum lại bắt đầu mùa mưa.Đây là bài học đầu tiên mà người chỉ huy quân sự phải biết để tính toán trang bị và kế hoạch hoạt động cho thích hợp.
Ngày đoàn xe vận tải đến Nậm Cắn thì trời quang mây tạnh. Chúng tôi tiến hành đổi xe. Tổ xe con quay về Hà Nội. Đoàn chuyển sang hai chiếc xe tải. Đường số 7 lúc này quang đãng, sạch sẽ. Mặt đường bằng phẳng dễ đi vì vừa được hơn nghìn công nhân Việt Nam khởi chữa từ tháng 7 năm 1962 và hoàn thành vào tháng 2 năm 1963; chỉ có điều khi công nhân rút, thiếu người bảo vệ nên phỉ lại ra hoạt động.
Vượt biên lúc 16 giờ trên đoạn đường chỉ hơn 25 ki-lô-mét mà 20 giờ xe mới vượt đèo Đỉnh Đàm đi qua thị xã Noỏng Hét. Phố xá nhà tranh vách đất xen kẽ phên gỗ, thưa thớt, chỉ có bóng dáng một vài chiến sĩ Pa-thét và một số thanh niên người H’mông đi chơi đêm. Tiếng khèn, tiếng đàn mỗi lúc dồn dập, lúc réo rắt, nỉ non. Dù sao giữa rừng heo hút mà được thế cũng ấm lòng chiến sĩ đôi chút. Xe từ từ vượt đèo Khăng Pha Niên, Dốc Chuối lên Pha Khe. Phỉ hay qua lại vùng này nên qua đoạn Pha Khe - Hội Xuổng có đại đội Pa Chay chốt và tuần phòng. Trăng sáng, ngồi trên xe nhìn xuống vách đèo thăm thẳm, lòng hơi rờn rợn. Vô phúc xe mà đổ thì không biết nó sẽ dừng lại ở điểm nào và ở vòng thứ mấy.
Đến Huội Xuổng, vì cán bộ đi liên lạc với đại đội Pa Chay chưa về nên đoàn tạm dừng. Lúc đó đã là 2 giờ sáng. Sương xuống hơi dày, đỉnh đèo cằng giá rét đậm. Tôi xuống xe đi kiểm tra từ đầu đoàn xe, đến điểm cảnh giới tiền tiêu, nơi nào cũng nghe khò khè tiếng ngáy. Lính ta hành quân cơ giới bốn - năm ngày rồi nên anh nào cũng rã rời lưng, gối. Tôi đánh thức tổ cảnh giới dậy, lấy thuốc lá cho anh em hút và động viên vài câu nửa Lào nửa Việt cốt quấy cho anh em chóng tỉnh ngủ. Anh em Pa Chay đề nghị cho đoàn ngủ tại chỗ đến sáng lại đi vì đường lên Đèo Đất, Nậm Tiên chưa liên hệ được với bộ đội tỉnh ở Bản Ban.
Trở lại xe, tôi suy nghĩ mái về câu hỏi “Vì sao Coong-le phản lại mặt trận liên minh nhanh thế?”.
Tôi nhớ lại trước đây, khi bàn bạc giữa đại tá Đươn và trung tá Koong-xỉ chuẩn bị cuộc họp tryền thống của Ủy ban đảo chính tiểu đoàn dù 2, đề cập tới “con người của Coong-le”, các thành viên Ủy ban đều ôn lại nguyên nhân nổi dậy là nhờ phong trào nhân dân và đường lối đấu tranh bảo vệ hòa bình, đòi dân sinh, dân chủ cho đất nước, chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ, bảo vệ hai tỉnh tập kết của Neo Lào Hắc Xạt.
Được sự cổ vũ, đồng thời cả áp lực của sĩ quan và binh sĩ tiểu đoàn dù 2, sau một thời gian do dự, Coong-le nhận chức Chủ tịch Ủy ban đảo chinh, nhưng cái quyết tâm cao của Coong-le còn phải nhờ một giấc mơ đặc biệt; Coong-le nằm mơ thấy mình đang lái chiếc xe Jép đi chơi giữa đồng cỏ đồng cháy. Lửa bao vây xe buộc Coong-le phải phóng ngược theo đường lên dốc núi. Anh ta hốt hoảng tưởng không thoát được, song lạ thay xe lao lên dốc băng băng vượt qua được bãi cháy. Thế là ngày hôm sau Coong-le tin là có trời phật phù hộ mình nên hăng hái tin cuộc đảo chính sẽ thành công. Nói hăng hái nhưng đến giờ phút sắp nổ súng thì Coong-le vẫn chưa về, đến nõi Ủy ban đảo chính một mặt vẫn giao cho tiểu đoàn phó Đươn với chân Phó chủ tịch sẵn sàng chỉ huy thay Coong-le. Mặt khác phái người đi tìm và gần 24 giờ mới kéo được Coong-le từ xóm gái điếm về để kịp giờ nổ súng.
Tôi còn nhớ một chuyện: vào tháng 8 năm 1962, Đại sứ của Tiệp Khắc ở Khăng Khay được quân tình nguyện Việt Nam kéo giúp chiếc Von-ga đen từ Hà Nội lên theo đướng số 7. Tuy có va quệt sứt sẹo đôi chút do đướng xấu, xong rửa xạch lau bóng thì chiếc Von-ga của ông ta vẫn thành “hoa hậu làng xe” của thành phố kháng chiến Khăng Khay. Thế là Đại sứ bèn thuê một đêm nhà hát Khăng Khay, mời bằng được ông tham mưu cơ quan A10 và trung đội hộ tống xe ra xem cuốn phim giới thiệu các công trình kiến trúc cổ kính của Pra-ha, gọi là “để cho Đại sứ được cảm tạ tấm lòng nhiệt thành, vất vả của anh em”. |
|
|