NHỮNG NGÀY Ở ĐỘI 71
Tháng 5/1950, tôi 29-30 tuổi đến nay tôi đã gần 80, trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ, cộng với những năm đổi mới, biết bao đổi thay, nhiều anh em đã hy sinh trong chiến đấu, những anh em còn lại, gặp được nhau tay bắt mặt mừng, vẫn cảm thấy mình còn trẻ, nhớ lại Đội 71 năm xưa, thật xao xuyến và cảm động...
Tôi nhận lệnh về Đội 71 từ ngày còn ở trường Lục quân, đóng ở Soi Mít (Thái Nguyên), về Bộ Tổng Tham mưu tôi được anh Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội quốc gia Việt Nam (sau đổi thành Quân đội nhân dân Việt Nam) thân mật tiếp và giao nhiệm vụ phụ trách Đội 71 sang Trung Quốc học tập, rút kinh nghiệm giải phóng đảo Hải Nam bằng thuyền buồm. Anh đã viết sẵn bức thư bằng chữ Hán trao cho tôi sang gặp đại sứ Trung Quốc để bạn làm thủ tục đón nhận chúng tôi ở vùng Bằng Tường - Long Châu bên kia biên giới.
Tôi đến gặp đại sứ La Quý Ba, đại sứ Trung Quốc đầu tiên ở nước ta, ở trong một khu rừng có nhiều cây cao thoáng mát. Nơi ở và làm việc của đại sứ là một căn nhà gỗ khang trang. Sau khi làm việc xong, hai vợ chồng đại sứ ân cần mời tôi cùng ăn sáng và vui vẻ trò chuyện về mối quan hệ hữu nghị thắm thiết Việt - Trung.
Sau đó, tôi trở về Đội 71 ở Đồng Bẩm (Thái Nguyên), gặp anh Nguyễn Việt và anh Trác Vinh Nam cũng là cán bộ trong Ban chỉ huy đội. Phải lên đường ngay, nên trong quá trình hành quân cũng là quá trình chúng tôi trao đổi công việc. Được anh Việt cho biết tình hình cụ thể về biên chế tổ chức của Đội 71 và thấy công tác chuẩn bị nội vụ cùng kế hoạch hành quân mọi việc đã sẵn sàng, tôi yên tâm cùng lên đường và ngày càng thêm thông cảm hiểu biết nhau hơn: anh Nam hoà nhã, tháo vát và trực tính kiêm cả phiên dịch trong khi Đội chưa gặp được tổ chức của Bạn. Anh rất thạo tiếng Quan Hoả và tiếng Quảng Đông, rất thuận lợi cho viêc giao dịch của Đội trong quá trình hành quân và tiếp xúc với bạn. Anh Việt năng nổ, có đầu óc tổ chức, có trình độ và năng lực công tác nhưng rất khiêm tốn. Lúc này tôi mới biết rõ Đội 71 thuộc Ban nghiên cứu Thủy quân, bao gồm thành phần một số anh em du kích biển Đông Bắc và học sinh có trình độ trung học từ các trường của miền trung du Bắc Bộ và vùng Khu 4, được tuyển vào trường Thuỷ quân khoá 1 và 2 ở Đoan Hùng, bên sông Lô - sông Chảy. Nói chung anh em đều tươi trẻ, khoẻ mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt và nhiệt tình hăng hái.
Vào thời điểm này, đường số 4 biên giới Việt - Trung vẫn chưa được giải phóng, đơn vị phải cử trinh sát bám địch để bí mật vượt qua. Tới Bằng Tường gặp Bạn vẫn chưa có xe, anh em lại phải tiếp tục đi thêm hai ngày đường hành quân bộ tới Long Châu. Tới đây chúng tôi được Bạn tiếp đón và bố trí đi Nam Ninh bằng tàu thuỷ. Theo Bạn cho biết lúc này Hoa Nam mới được giải phóng, nhiều nơi vẫn còn phỉ hoạt động, nên đi bằng đường sông an toàn hơn. Sau nhiều ngày hành quân bộ cực nhọc vất vả đã thấm mệt, đến đây lại được đi bằng tàu khách êm ả, có nơi ăn nghỉ tại chỗ và được thư giãn ngồi ngắm cảnh bên sông, mọi người trong đơn vị đều cảm thấy rất thích thú và thoải mái. Toàn đơn vị được Bạn bố trí đi trên ba chiếc tàu với cự ly cách nhau khoảng 100m, có giải phóng quân mang súng ngồi trên boong yểm hộ, chạy suốt ngày đêm. Khi tối xuống đã ngả về khuya, đoàn tàu vẫn nổ máy lướt trôi và loa phóng thanh trong khoang đang nhè nhẹ vang lên những điệu kèn, tiếng nhị êm ái như muốn ru ngủ khách đi tàu, thì bỗng nhiên hàng tràng súng máy, súng trường từ trên bờ bắn xuống và từ dưới tàu bắn lên vang động cả dòng sông. Một lúc sau mọi việc cũng qua đi, đoàn tàu vẫn an toàn và chiều hôm sau đơn vị chúng tôi vẫn đến được Nam Ninh theo dự định. Từ đây, Bạn đưa chúng tôi hành quân tiếp bằng ô tô. Đến Tsékham, đơn vị chúng tôi được Quân đoàn 43 phụ trách tổ chức tiếp đón, rồi đưa ra đảo Điều Thuận, một đảo nhỏ cách đất liền trên 10km để huấn luyện.
Về luyện tập đi biển, Bạn dùng 6 - 7 chiếc thuyền buồm, từ chỗ ra khơi tập cho quen với sóng gió, đến tập lái thuyền, rồi tập sử dụng thuyền buồm, gồm các động tác lên xuống thuyền buồm, kỹ thuật điều khiển thuyền buồm để lợi dụng được sức đẩy của gió cho thuyền chạy các chiều: xuôi gió, ngược gió, quay mũi đổi chiều khi chạy vát... điều khiển cho thuyền chạy nhanh, chạy chậm hay ngừng chạy, động tác neo đậu, đưa thuyền ra khơi và cho thuyền vào bờ cập bến... Luyện tập để điều khiển được buồm cho thuyền chạy an toàn trong điều kiện sóng to gió lớn là cả một nghệ thuật và mất nhiều công phu mới luyện tập thành thạo. Bạn còn truyền thụ những kinh nghiệm thực tế của những người đi biển để phán đoán thời tiết, chiều gió, để xem con nước thuỷ triều, tìm phương hướng đi giữa biển khơi...
Về kỹ thuật tác chiến, có tập xạ kích trên thuyền, tập đổ bộ bằng thuyền gồm các động tác từ trên bờ lên thuyền xuống nước tiếp cận mục tiêu, chiếm lĩnh trận địa.... Kết hợp với việc luyện tập kỹ thuật tác chiến trên bộ (động tác cá nhân, 3 người, tiểu đội và trung đội), kỹ thuật sử dụng, vận hành máy nổ chạy tàu, thuyền v.v...
Cuối chương trình chúng tôi được nghe Bạn giới thiệu tóm lược về "Chiến dịch đổ bộ đánh chiếm đảo Hải Nam" và cuối khoá có đợt huấn luyện tổng hợp, diễn tập thực binh. Đêm ra khơi sáng sao, gió to sóng lớn cao đến 4 - 5m làm cho thuyền chòng chành nghiêng ngả, hai bên con sóng không nhìn thấy thuyền nhau, nước biển bắn tung toé, trào lên cả mui thuyền làm ướt đẫm cả quần áo của những anh em đi diễn tập. Tiếng hò hét điều khiển của Bạn cộng với tiếng gào rít của sóng gió, tiếng va đập của sóng vào mạn thuyền với những làn nước từng nhịp tung toé ào ạt lên thuyền, làm cho không khí luyện tập rất sôi động, khẩn trương và nghiêm túc. Đêm diễn tập thắng lợi trở về cũng là lúc đã tới thời hạn trở về nước để nhận nhiệm vụ mới, sau 6 tháng khẩn trương huấn luyện, học tập kinh nghiệm trong sự giúp đỡ tận tình của Bạn. Trước khi chia tay, Bạn đánh giá cao tinh thần và kết quả học tập của đơn vị, hoàn thành tốt kế hoạch của trên đề ra, tình hữu nghị thấm đậm nhiều ấn tượng còn in sâu trong tâm khảm mọi người.
Về nước vào tháng 4/1951, thì sang tháng 5/1951 Bộ có chủ trương giải thể Ban nghiên cứu Thuỷ quân do yêu cầu của tình hình lúc bấy giờ, trên dưới đều trăn trở luyến tiếc. Anh em chia tay bịn rịn, người đi chiến đấu ngoài hải đảo ở khu Đông Bắc, người về sư đoàn chủ lực. Trong chiến đấu gian khổ, nhiều anh em chiến đấu dũng cảm lập nhiều thành tích, một số anh em đã hy sinh. Gặp các anh Phạm Vũ Quân, Nguyễn Quang Tiếp kể chuyện hoạt động vùng biển Đông Bắc (Hải Ninh - Hồng Quảng) ác liệt, gian khổ, tôi liên tưởng đến tình hình khi vể nhận nhiệm vụ ở Trung đoàn 2 của Quân khu 3 đóng ở Tiên Yên hồi đầu chiến tranh (1947), thôi thì đủ mọi khó khăn thiếu thốn, lại thêm nạn thổ phỉ hoành hành cướp phá, nên rất thông cảm với anh em Thuỷ quân sông Lô chiến đấu ở ven biển hải đảo, cơ sở địch hậu Đông Bắc, trong hoàn cảnh luôn bị địch càn quét, o ép đủ bề gian truân cực nhọc.
Hoà bình lập lại, tôi gặp anh Ngô Thế Lãng, phụ trách đoàn văn công của Sư đoàn pháo binh 349, cũng như đã gặp nhiều anh em trong Đội 71, Thuỷ quân sông Lô năm xưa, là những đồng chí đã từng chiến đấu với quân thù, nay trở về đời thường lạc quan yêu đời, vẫn vững tin vào tương lai tươi đẹp của đất nước, cảm thấy thật là đáng quý.
Tuy rằng thời kỳ của Đội 71 đã qua đi khá xa, và trí nhớ của tôi cũng có hạn, nhưng để thiết thực góp phần vào xây dựng tập Hồi ký về Ban nghiên cứu Thuỷ quân, cái nôi của Thuỷ quân sông Lô (trong đó có các chiến binh Đội 71), tôi xin ghi lại mấy dòng hồi ký này để cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, động viên nhau giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của "Anh bộ đội Cụ Hồ".



