NHỮNG NGƯỜI CON NẰM LẠI GIỮA MÙA XUÂN – CÂU CHUYỆN VỀ MẸ VNAH DƯƠNG THỊ LIỄU
Trong một buổi chiều về lại xã An Trường, huyện Càng Long – nơi những cánh đồng lúa trải dài xanh mướt, tôi được nghe kể về một người mẹ đã sống trọn đời mình trong gian khó và mất mát: Mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Liễu. Mẹ sinh năm 1918, là người phụ nữ nông dân hiền hậu, tảo tần. Cùng chồng – ông Nguyễn Văn Dài – Mẹ nuôi dạy 7 người con trong cảnh nghèo nhưng đầy ắp tình thương. Những đứa con lớn lên giữa thời chiến, sớm thấm nhuần tinh thần yêu nước, và rồi lần lượt bước vào con đường cách
Trong một buổi chiều về lại xã An Trường, huyện Càng Long – nơi những cánh đồng lúa trải dài xanh mướt, tôi được nghe kể về một người mẹ đã sống trọn đời mình trong gian khó và mất mát: Mẹ Việt Nam Anh hùng Dương Thị Liễu.
Mẹ sinh năm 1918, là người phụ nữ nông dân hiền hậu, tảo tần. Cùng chồng – ông Nguyễn Văn Dài – Mẹ nuôi dạy 7 người con trong cảnh nghèo nhưng đầy ắp tình thương. Những đứa con lớn lên giữa thời chiến, sớm thấm nhuần tinh thần yêu nước, và rồi lần lượt bước vào con đường cách mạng.
Trong số đó, hai người con của Mẹ đã mãi mãi không trở về.
Người con trai – liệt sĩ Nguyễn Văn Đèo, sinh năm 1944 – tham gia cách mạng từ năm 1965, là Tiểu đội trưởng du kích ấp 7, xã An Trường. Anh là người gan dạ, luôn nhận những nhiệm vụ nguy hiểm. Ngày 26 tháng 4 năm 1969, khi đang được phân công đi nhận chất nổ phục vụ chiến đấu, trong lúc chờ cấp phát, địch bất ngờ đổ quân và nổ súng. Anh đã hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương mình, khi nhiệm vụ còn dang dở.
Nỗi đau ấy chưa kịp nguôi ngoai, thì chiến tranh lại một lần nữa mang đến mất mát cho gia đình.
Người con trai khác – liệt sĩ Huỳnh Văn Đực (Bảy Điệp), sinh năm 1945 – tham gia cách mạng từ ngày 01 tháng 3 năm 1965. Là Thượng sĩ trinh sát thuộc Trung đoàn 4, anh hoạt động ở những nơi hiểm nguy nhất, lặng lẽ mà quả cảm.
Ngày 31 tháng 01 năm 1968 – giữa những ngày đầu của cuộc Tổng tiến công, anh đã anh dũng hy sinh, để lại phía sau là mẹ già và những ước mơ chưa kịp thực hiện.
Hai người con, hai số phận…
Nhưng cùng chung một kết thúc – nằm lại vì Tổ quốc.
Người dân trong xã kể rằng, Mẹ Dương Thị Liễu là người ít nói. Sau khi hai con hy sinh, Mẹ càng trở nên lặng lẽ hơn. Không ai thấy Mẹ khóc lớn, nhưng ai cũng biết, nỗi đau ấy luôn âm ỉ trong lòng.
Có lần, một người hàng xóm hỏi Mẹ: “Sao Mẹ mạnh mẽ vậy?”
Mẹ chỉ nhẹ nhàng đáp: “Con mình đi theo cách mạng, chết cũng vì cách mạng… mình phải chịu thôi…”
Câu nói ấy không phải là sự cam chịu yếu đuối, mà là sự chấp nhận đầy kiên cường – một sự hy sinh lặng thầm nhưng vô cùng lớn lao.
Dù mất mát, Mẹ vẫn tiếp tục sống, tiếp tục chăm lo cho gia đình, tiếp tục là chỗ dựa cho những người con còn lại. Trong những năm tháng gian khó, Mẹ vẫn giữ trong lòng niềm tin rằng, sự hy sinh của các con sẽ góp phần mang lại hòa bình cho quê hương.
Và rồi, ngày hòa bình cũng đến. Nhưng hai người con của Mẹ thì mãi mãi không trở về.
Năm 1977, Mẹ ra đi, mang theo cả một đời hy sinh thầm lặng. Đến năm 2014, Mẹ được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” – một sự ghi nhận xứng đáng cho những mất mát mà Mẹ đã trải qua.
Rời An Trường, tôi đứng lặng giữa cánh đồng chiều, nơi gió vẫn thổi qua như mang theo những câu chuyện của quá khứ. Tôi chợt hiểu rằng, có những hy sinh không cần phải nói thành lời, nhưng vẫn sống mãi trong lòng quê hương.
Một người mẹ…
Hai người con nằm lại…
Một đời lặng lẽ đi qua chiến tranh…
Nhưng chính từ những con người như Mẹ Dương Thị Liễu, đất nước này mới có được mùa xuân hôm nay – một mùa xuân của hòa bình, của biết ơn và của ký ức không bao giờ phai.



