NHỮNG NGƯỜI CON NUÔI CỦA BẢN GIA RAI VÀ CÂU CHUYỆN TÌNH NGƯỜI BÊN DÒNG SÔNG BA
Trong tiếng Gia Rai, H’Tuynh có nghĩa là “nhặt được”. Đó cũng là tên của người phụ nữ sinh năm 1970 hiện sống tại làng Biah, xã Ia Tul, huyện Ia Pa, Gia Lai. Bà là “con nuôi” của bản làng khi được một người phụ nữ Gia Rai “nhặt về” khi lạc mất mẹ cha trong cuộc tháo chạy của tàn quân ngụy 50 năm về trước. Đã gần như quên hết tiếng phổ thông, Rơ Ô H’Tuynh phải nhờ cô con gái út H’Búy phiên dịch với chúng tôi khi trò chuyện.Mùa xuân năm 1975. H’Tuynh, khi đó vẫn còn mang tên khai sinh là Hồ Thị Tuyết Nga theo dòng người bỏ chạy theo đường 7 về phía sông Bờ. Ba chị là lái xe cho các sĩ quan quân đội ngụy. Giữa tháng 3 năm đó, ông hẹn sẽ đánh xe về đón cả gia đình 4 mẹ con di tản xuống Phú Yên. Thế nhưng, đột ngột, mọi liên lạc với ba đều bị cắt đứt.“Sau này, mẹ kể lại, bà ngoại lúc đó không biết làm cách nào nên đã đưa 3 con đi xe lam từ Đắk Lắk di chuyển theo hướng đường 7 cùng dòng người. Mẹ chỉ nhớ, mẹ là con thứ hai, ở nhà được gọi là Nga nhỏ hoặc Kế nhỏ”, chị H’Búy phiên dịch.Bà H'Tuynh trong căn nhà nhỏ của mình.Đi được khoảng 1 ngày, “Nga nhỏ” cùng mẹ và các anh em ngủ lại ven đường. Khi tỉnh dậy, “Nga nhỏ” chỉ thấy miệng khô khốc và khát cháy. Chung quanh chẳng có một ai. Gia đình theo dòng người hoảng loạn đã để lạc mất “Nga nhỏ”.Rất may, lúc này, một xe Jeep của quân giải phóng đi ngang qua. Chú bộ đội tốt bụng đã quyết định bế theo “Nga nhỏ” theo. Anh đưa cô bé vào làng người Gia Rai tìm người nuôi hộ.
Người trong buôn biết bà ngoại tôi là H’Ktut khi ấy chưa có con gái [người Gia Rai có tập quán mẫu hệ nên rất coi trọng con gái – PV] nên gọi đến. Từ đó, mẹ Nga được nhận về nuôi và được bà đặt tên là H’Tuynh – nghĩa là ‘nhặt được’.
Chị H’Búy nói Những ngày đầu về “nhà mới”, cô bé H’Tuynh nhớ mẹ, nhớ chị em nên vẫn cứ ngằn ngặt khóc. Vợ chồng “mẹ H’Ktut” liên tục phải địu chị trên lưng dỗ dành. Họ dồn hết tình thương cho người con khác dòng máu, dạy chị nói tiếng Gia Rai, làm cho chị những món đồ chơi đơn sơ bằng gốc cây, ngọn cỏ quanh làng. Dần dần, H’Tuynh lớn lên, trở thành một phần của làng Biah thanh bình. Rồi chị lấy chồng, sinh con, có thêm các cháu nội ngoại.
Cùng làng với chị, anh Rơ Ô Sông cũng là người bị bỏ lại sau cuộc lui binh tháng 3 lịch sử. Khi chúng tôi tới, Rơ Ô Sông vừa đi cắt cỏ về cho con dê cái mới sinh sau nhà. Da sạm đen vì nắng gió, anh bảo: Tới giờ, anh cũng chỉ còn nhớ mang máng chuyện đã xảy ra năm nào.
“Năm ấy, tôi khoảng 5 tuổi, theo cha mẹ chạy về Phú Yên. Tới chân ngọn núi ở tỉnh Phú Bổn (nay là Ayun Pa) thì bị lạc mất gia đình”.
Khi tỉnh dậy, cậu bé thấy mình đang nằm bên một hồ nước, người đã không còn sức vì đói khát. Đúng lúc này, từ trong buôn Biah, bà Rơ Ô Tốt đi lấy nước nghe thấy tiếng trẻ khóc nên chạy lại. Dưới ánh mắt ngạc nhiên của người mẹ Gia Rai là một đứa trẻ lấm lem đầy bụi cát. Rơ Ô Tốt động lòng, đem cậu về nhà nuôi và đặt tên là Rơ Ô Sông.
Đó cũng là tất cả những gì Ô Sông còn mường tượng ra được về gốc gác của bản thân mình. Cũng giống như H’Tuynh, qua nhiều năm, anh được cả buôn yêu thương. Uống nước nguồn sông Ba, ăn lúa gạo của buôn, dần dần, Ô Sông tự coi mình là người Gia Rai đích thực.
Trưa cuối tháng 3, Ô Sông rảo bước trên con đường trải bê-tông phẳng lì dẫn chúng tôi tới nhà “mẹ Rơ Ô Tốt” ở giữa làng. Nhưng tới nơi, bà đang đi chăn bò trên rãy xa. Ô Sông nán lại chơi với lũ cháu nhở dưới hiên nhà. Tiếng cười nói lanh lảnh vang cả một góc trời- Suốt nhiều năm qua, anh có đi tìm lại ba mẹ ruột của mình không? – Chúng tôi tò mò hỏi.- Cũng có vài năm. Tôi viết thư nhờ chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly, nhờ mọi người khác giúp đỡ. Cũng có 3, 4 gia đình tìm về nhưng khi xét nghiệm ADN đều không phải. Nhưng, họ cũng nhận tôi là em nuôi – Rơ Ô Sông đáp.- Vậy còn bây giờ thì sao? – Chúng tôi hỏi tiếp.- Tới giờ, tôi không đi tìm gia đình nữa. Tôi đã có mẹ cha ở làng. Lại có thêm những anh chị nuôi nữa. Hai con tôi còn đi học Đại học Y nữa. Cuộc sống ổn định rồi các anh ạ!Bên dòng sông Ba hiền hòa, cuộc đối thoại của chúng tôi lọt thỏm vào giữa gió đại ngàn. Ô Sông còn khoe thêm, anh từng nhiều năm làm trưởng thôn, trở thành người có uy tín trong cộng đồng.Còn với chị H’Tuynh, cuộc đời cho chị một cái kết viên mãn hơn. Năm 2015, cô con gái út H’Búy khi đang học quân sự tại Buôn Ma Thuột đã quyết định liên hệ với chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly với mong muốn tìm lại gia đình cho mẹ.“Tôi lục tung hồ sơ liên quan đến cuộc tháo chạy trên đường 7 của chương trình thì thấy 2 trường hợp giống của mẹ nên gọi điện cho các anh chị biên tập. Vài tháng sau, các anh chị đề nghị lấy mẫu xét nghiệm ADN. Kết quả cho ra trùng khớp”, chị H’Búy kể lại.Đúng ngày 2/4/2016, sau hàng chục năm xa cách, cô bé mang tên “nhặt được” của buôn Biah được mời tới trường quay. Tại đây, H’Tuynh nhận lại được mẹ ruột và các anh em của mình. Cái tên “Nga nhỏ” lại một lần nữa được gọi lên đầy trìu mến.“Mẹ chỉ nói được một câu: Nga nhớ mẹ! Rồi, tất cả chúng tôi bật khóc”, người con út của H’Tuynh tiếp lời.Chị H'Tuynh cùng người mẹ "nuôi" của mình.Nhưng, H’Tuynh không rời buôn làng đã nuôi bà khôn lớn. H’Tuynh chọn ở lại dưới nếp nhà dài với ba mẹ nuôi. Mỗi năm vài dịp, chị sẽ về thăm gia đình ở Đắk Đoa, Đắk Lắk để đoàn tụ cùng thân nhân.“Giờ, mẹ đã có tới 2 mái nhà, 2 cái tên. Ở đâu, mọi người cũng yêu thương mẹ cả”, H’Búy cười nói.H’Tuynh, Ô Sông… chỉ là 2 trong số rất nhiều đứa trẻ đã có được cuộc đời mới nhờ tình yêu thương vô điều kiện của những bản làng Tây Nguyên. Khi chia tay họ, chúng tôi chợt nghĩ: Hình như, họ cũng chính là biểu tượng cho lòng bao dung, tinh thần hòa hợp, khép lại quá khứ đau thương, hướng tới tương lai dài phía trước.H’Tuynh, Ô Sông… chỉ là 2 trong số rất nhiều đứa trẻ đã có được cuộc đời mới nhờ tình yêu thương vô điều kiện của những bản làng Tây Nguyên.
Còn tại Hà Nội, Đại tá Khuất Duy Hoan cũng kể cho chúng tôi một câu chuyện khác về tình người nồng ấm bên dòng sông Ba. Năm 1993, ông cùng gia đình chuyển từ Thái Nguyên vào Pleiku. Một người bạn cũ giới thiệu ông tìm đến căn nhà nhỏ số 64A đường Phan Bội Châu. Chủ nhà là ông Nguyễn Thanh – gốc Quảng Nam, làm nghề lái xe khách. Vợ ông, bà Phạm Thị Hà Hương là người phụ nữ miền Tây với gương mặt hiền lành, phúc hậu.Ban đầu chỉ là chuyện mua bán, hỏi giá, trao đổi giấy tờ. Nhưng rồi, trong buổi trà chiều ven hiên, khi biết ông Hoan từng tham chiến ở đường 7, ông Nguyễn Thanh tiết lộ: “Tôi cũng từng đi qua đoạn đường đó. Tháng 3/1975, cả gia đình tôi nằm trong đoàn người chạy di tản từ Pleiku về Cheo Reo. Khi bị chặn lại, chúng tôi quay ngược trở về. Trên đường, thấy một đứa bé gái con lai đỏ hỏn, bị bỏ lại bên vệ đường, nằm khóc thét giữa khói bụi và vỏ đạn. Vợ chồng tôi không nỡ… bà nhà bế nó lên, gói vào áo, mang về nuôi như con ruột”.Đại tá Khuấn Duy Hoan thời còn trẻ.Câu chuyện tưởng như đã khép lại cùng với chiến tranh, nhưng gần 20 năm sau, một người đàn ông Mỹ, cha ruột đứa trẻ đã tìm đến Việt Nam. Ông mang theo một bức ảnh đã ố màu và nước mắt. Nhận con, anh ta xin phép chính quyền bảo lãnh cho cả gia đình ông Nguyễn Thanh sang Mỹ, theo chính sách nhân đạo dành cho diện con lai.“Lúc ấy, tôi chỉ im lặng,” Đại tá Hoan kể lại. “Ông ấy nhìn tôi, xúc động lắm. Rồi nói: ‘Tôi tận mắt thấy bộ đội giải phóng nhường cả khẩu phần ăn cho phụ nữ trong khe suối. Có người còn cởi áo lót dưới mưa cho đứa nhỏ lạ mặt. Nếu không có các anh, gia đình tôi không có được ngày hôm nay’.”“Chiến tranh nào cũng khốc liệt”, ông Hoan trầm ngâm. “Nhưng điều khiến tôi luôn tin vào ngày mai không phải là súng thắng gươm, mà là con người thắng được sợ hãi. Thắng được lòng hận thù. Và giữ lại được cái tử tế, ngay cả khi tất cả xung quanh đều sụp đổ.”Gia đình ông Hoan sau đó mua lại chính căn nhà của vợ chồng ông Thanh - nơi từng nuôi dưỡng một đứa trẻ giữa thời khói lửa. Ông sống ở đó suốt hơn 20 năm, kế bên dòng sông Ba từng đong đầy cả tiếng súng lẫn tiếng ru bên nôi của một câu chuyện nhân ái hiếm hoi giữa chiến tranh.


