Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Những người con ưu tú ở Tiền Giang: PHẠM HỮU KỲ (1900 – 1942)

Đồng Tháp21/08/2026Xã Bình Thành (Xã Bình Thành)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phạm Hữu Kỳ hay Phạm Văn Kỳ, bí danh là Mười Kỳ, sinh năm 1900 tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình trung nông có truyền thống yêu nước.

Thưở nhỏ, ông nổi tiếng giỏi võ nghệ và là người có chí khí. Năm 1924, ông tham gia tổ chức Thiên Địa hội chống chính quyền thực dân Pháp. Năm 1925, chính quyền thực dân tỉnh Mỹ Tho bắt giam ông 9 tháng vì ông là người đứng đầu Thiên Địa hội tại xã Phú Mỹ. Năm 1926, được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động, lãnh đạo nông dân trong vùng đấu tranh chống địa chủ, cường hào ác bá, đòi tự do, cơm áo. Năm 1930, ông tham gia cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong một cuộc biểu tình chống sưu cao, thuế nặng, đòi các quyền tự do, dân chủ vào năm 1931, ông bị địch bắt; và phải lãnh án một năm tù. Sau khi được trả tự do, ông tìm cách móc nối liên lạc với tổ chức và tiếp tục hoạt động ở vùng nông thôn huyện Châu Thành. Năm 1934, ông lại bị chính quyền thức dân bắt, kết án 3 năm tù, giam tại nhà tù Mỹ Tho rồi Khám lớn Chí Hòa (Sài Gòn). Ở trong tù, ông được giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê nin từ những nhà cách mạng đàn anh.

Năm 1937, mãn hạn tù, ông đi các nơi tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, động viên tinh thần đấu tranh chống áp bức, bất công cho quần chúng lao khổ. Năm 1938, ông chuyển địa bàn hoạt động về xã Nhơn Ninh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An), được bầu làm Bí thư chi bộ ghép Nhơn Ninh – Tân Hòa. Tại đây, ông lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, tăng tiền công cấy, công gặt, bãi bỏ nạn đầu cơ tích trữ và cho vay nặng lãi,…

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thức hai bùng nổ. Trước tình hình mới, ông đề cử người khác thay mình làm Bí thư Nhơn Ninh - Tân Hòa rồi chuyển về Phú Mỹ để chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 11-1940, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở tỉnh Mỹ Tho. Đêm 22 rạng ngày 23-11-1940, ông chỉ huy 2 trung đội vũ trang đánh chiếm trụ sở các xã Tân Hòa Thành, Phú Mỹ và Tân Hội Đông (nay thuộc huyện Tân Phước). Sau đó, cuộc khởi nghĩa đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man, nhiều cán bộ lãnh đạo của Xứ ủy, Tỉnh ủy và quần chúng hy sinh hoặc bị bắt bớ, giam cầm.

Đầu tháng 12-1940, căn cứ Đồng Cây Xanh (Long Hưng, Châu Thành) của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho bị tan vỡ. Tuy nhiên, với tinh thần chiến đấu kiên cường, ông đã chỉ huy khoảng 100 nghĩa quân tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích ở Phú Mỹ, Hưng Thạnh, Tân Hòa Thành, Bưng Môn (Cai Lậy), Nhơn Ninh (Mộc Hóa),…

Trước tình hình đó, chính quyền thực dân ở Nam kỳ, một mặt tăng cường lực lượng quân sự, tung binh lính càn quét và lùng sục nghĩa quân ở khắp nơi, một mặt thiết lập quận Mộc Hóa với bộ máy chính trị, quân sự và cảnh sát khá hoàn chỉnh để tiêu diệt nghĩa quân do ông lãnh đạo. Đồng thời, bọn chúng còn giở cả những thủ đoạn đê hèn, như treo giải thưởng 500 đồng, rồi sau đó, tăng lên 1.000 đồng Đông Dương (piastres) theo công văn số 33 ngày 31-5-1941 cho bất cứ ai chỉ nơi ở hoặc bắt được ông;  đồng thời, bắt giam toàn bộ gia đình của ông nhằm gây áp lực, buộc ông phải ra đầu thú.

Thế nhưng, mọi âm mưu và hành động thâm độc của thực dân pháp đều bị thất bại. Nghĩa quân được nhân dân nuôi dưỡng, che giấu, vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu chống kẻ thù.

Liên tiếp trong hai tháng 5 và 6-1941, nghĩa quân do ông chỉ huy đã thực hiện các cuộc trừng trị bọn chỉ điểm ác ôn, có nợ máu với nhân dân, như Hội đồng Cốt ở Nhơn Ninh, Trùm Voi, Phan Văn An ở Mỹ An Phú (Mộc Hóa, Tân An), Cai Tuân, Sáu Huề ở Tân Hòa Thành (Mỹ Tho),… khiến cho bộ máy hội tề của địch hoang mang, lo sợ; còn quần chúng thì vô cùng phấn khởi. Sau đó, địa bàn hoạt động của nghĩa quân dần dần được mở rộng. Tháng 10-1941, ông và nghĩa quân trở về hoạt động ở vùng rạch Láng Cát (Phú Mỹ).

Trước việc nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, ngày 20-2-1942, theo chỉ thị của Thống đốc Nam kỳ Rivoal, Chánh thanh tra chính trị và hành chính Esquivillon triệu tập Chủ tỉnh và Chánh mật thám của các tỉnh Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sa Đéc, Tân An, Vĩnh Long tiến hành cuộc họp khẩn cấp ở Mỹ Tho để bàn cách đối phó với nghĩa quân. Theo đó, trong tháng 3-1942, lợi dụng mùa khô, địch huy động gần 200 lính khố xanh (còn gọi là lính thủ hộ hay lính bảo an) với đầy đủ vũ khí và phương tiện vận chuyển, như xe ô tô, mô tô, thuyền máy,… tiến vào Đồng Tháp Mười, truy lùng nghĩa quân.

Do tương quan lực lượng có sự chênh lệch lớn, nên ông đã ra lệnh cho nghĩa quân di chuyển trên nhiều địa bàn khác nhau, để vừa cơ động đánh địch, vừa thực hiện việc bảo toàn lực lượng và chờ đợi thời cơ mới.

Thế nhưng, trong một trận đánh ác liệt ở Cổ Chi (nay thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang) vào ngày 26-5-1942, ông đã anh dũng hy sinh để lại bao niềm thương tiếc và mến phục của nhân dân.

(Nguồn: Trích "Những người con ưu tú ở Tiền Giang")

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn