Những người đi qua chiến tranh và ký ức không thể nào quên
Trong hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, hàng triệu người con Việt Nam đã rời quê hương khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo khát vọng độc lập, tự do và niềm tin vào ngày non sông thu về một mối. Có người đi qua những cung đường Trường Sơn đầy bom đạn, có người đứng giữa chiến trường Quảng Ngãi, có người trực tiếp tiến vào Dinh Độc Lập trong thời khắc lịch sử ngày 30/4/1975. Những câu chuyện của họ, sau nửa thế kỷ, vẫn là những tư liệu sống động về một thời tuổi trẻ đã hiến dâng cho Tổ quốc.
“Bị bom vùi lấp, bới lên rồi lại tiếp tục làm nhiệm vụ”
Lịch sử dân tộc được viết nên không chỉ bằng những chiến công trên chiến trường mà còn bằng sự hy sinh thầm lặng của hàng triệu người ở hậu phương và tiền tuyến.
Lật giở những bức ảnh chụp cùng đồng đội năm xưa, cựu chiến binh Bùi Ngọc Chiến, ở Hà Nội, như được trở về những năm tháng tuổi trẻ. Tháng 7/1966, khi vừa tròn 18 tuổi, chàng trai trẻ Bùi Ngọc Chiến xếp lại sách vở, đăng ký lên đường nhập ngũ, mang theo khát vọng được vào chiến trường miền Nam chiến đấu.
Đó cũng là ước nguyện của biết bao thanh niên thời ấy. “Đi B” không chỉ là một nhiệm vụ, mà còn là niềm tự hào của những người trẻ khi đất nước vẫn đang bị chia cắt, đồng bào hai miền chưa được sum họp.
Hơn 600 cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn ngày ấy tập luyện tại thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Những chiếc ba lô nặng trĩu, những cuộc hành quân xuyên đêm qua địa hình rừng núi, sông suối giả định là bước chuẩn bị cho hành trình vượt Trường Sơn vào chiến trường.
Sau 3 tháng huấn luyện, đơn vị hành quân vào chiến trường Quảng Ngãi.
Trước khi lên đường, ông Chiến được tuyển chọn vào đơn vị đặc công. So với bộ binh, nhiệm vụ của người lính đặc công càng đặc biệt nguy hiểm bởi họ phải bí mật tiếp cận, đánh thẳng vào những mục tiêu trọng yếu của đối phương.
“Đặc công bao giờ cũng đánh điểm, phải vào chính tâm điểm của trận đánh. Bộ binh phối hợp đánh bên ngoài. Quan trọng nhất là phải giữ được bí mật để đặc công tiếp cận mục tiêu”, ông Chiến nhớ lại.
Cùng với những người lính trên chiến trường là lực lượng thanh niên xung phong – những chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi ngày ấy đã góp sức làm nên những tuyến đường huyết mạch phục vụ chiến trường.
“Không bao giờ nghĩ đến cái chết”
Ở một miền ký ức khác của Trường Sơn, cựu thanh niên xung phong Nguyễn Thị Bích Liên vẫn nhớ như in những ngày tháng tuổi trẻ.
Vừa tròn 17 tuổi, cô gái quê lúa Thái Bình tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. Đội của bà hành quân vào Trường Sơn hơn một tháng trời, chủ yếu đi ban đêm để tránh máy bay địch.
Giữa chiến trường khốc liệt, những nữ thanh niên xung phong vẫn giữ cho mình tinh thần lạc quan và niềm tin vào ngày chiến thắng.
Bà Liên là một trong những hạt nhân của đội văn nghệ thuộc Ban Xây dựng 67, sau đó được sáp nhập vào Đội văn công của Bộ Giao thông Vận tải, trở thành Đoàn văn công “Tiếng hát át tiếng bom”.
Ban ngày, họ vừa biểu diễn phục vụ bộ đội, vừa tham gia bảo đảm giao thông; ban đêm, có người lại trở thành cô giáo dạy chữ cho đồng đội.
Nhưng phía sau những tiếng hát, những phút giây lạc quan ấy là một cuộc chiến sinh tử.
“Có hôm chúng tôi bị bom vùi lấp, anh em bới lên rồi ngồi nghỉ một lúc, chúng tôi lại tiếp tục làm nhiệm vụ”, bà Liên kể.
Bom đạn có thể vùi lấp con người nhưng không thể vùi lấp ý chí của những người trẻ tuổi.
Ngày ấy, những câu hát như Cô gái mở đường, Trên đỉnh Trường Sơn trở thành nguồn động viên tinh thần. Mỗi khi tiếng hát vang lên, những cô gái thanh niên xung phong lại có thêm sức mạnh để tiếp tục công việc.
“Lúc bấy giờ lý tưởng cao cả lắm, có cái gì đó thôi thúc ghê gớm lắm. Không bao giờ nghĩ đến cái chết, mình cứ đi làm, hoàn thành nhiệm vụ để đoàn xe chở hàng đi phía trước được nhiều thì mình thấy phấn khởi”, bà Liên chia sẻ.
Trong bom đạn, họ không nghĩ mình đang làm nên những điều lớn lao. Họ chỉ nghĩ đơn giản rằng phía trước là nhiệm vụ, là những đoàn xe đang chờ, là chiến trường cần tiếp tế và là đất nước cần họ.
Giờ phút lịch sử trong Dinh Độc Lập
Nếu những người lính, thanh niên xung phong góp sức trên những cung đường và chiến trường, thì ngày 30/4/1975, những người lính của Trung đoàn Bộ binh 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 đã trực tiếp chứng kiến thời khắc lịch sử khi chiến tranh kết thúc.
Trong số đó có ông Bàng Nguyên Thất – người thuộc Trung đoàn Bộ binh 66, trực tiếp tham gia đội hình tiến vào Dinh Độc Lập.
Ngày 26/4/1975, tại rừng cao su Long Khánh, toàn Trung đoàn Bộ binh 66 được phổ biến kế hoạch tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Sau khi đánh chiếm căn cứ Nước Trong và trường thiết giáp – một căn cứ quan trọng án ngữ cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, rạng sáng 30/4, Trung đoàn Bộ binh 66 nhận nhiệm vụ làm mũi chủ công, phối hợp với Lữ đoàn Xe tăng 203, Quân đoàn 2, tiến theo hướng xa lộ Biên Hòa vào Sài Gòn.
Trên đường tiến quân, lực lượng đối phương nhiều lần chống trả quyết liệt. Tuy nhiên, trước sức tiến công mạnh mẽ của quân giải phóng, từng ổ đề kháng lần lượt bị vô hiệu hóa.
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 30/4, chiếc xe tăng thứ hai húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập. Những người lính bộ binh theo sau tiến thẳng vào tiền sảnh.
Thời khắc ấy đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và mở ra một trang sử mới của dân tộc.
Ông Bàng Nguyên Thất nhớ lại, để tránh tiếp tục xảy ra giao tranh, giảm thương vong cho quân đội và nhân dân, các cán bộ chỉ huy đã nhanh chóng thống nhất việc đưa Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đến Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng.
“Việc tôi và toàn bộ ê-kíp thọc sâu của Quân đoàn 2, mà Trung đoàn Bộ binh 66 làm nhiệm vụ, được có mặt trong giờ phút lịch sử ngày 30/4/1975 là niềm vinh dự và tự hào mà tôi không bao giờ quên”, ông Thất xúc động nói.
Điều khiến ông day dứt nhất là ngay cả trong giờ phút chiến thắng, vẫn có những người lính đã mãi mãi nằm lại.
Ký ức còn lại sau nửa thế kỷ
Chiến tranh đã lùi xa. Những người lính năm nào giờ đã bước sang tuổi xế chiều. Những cô gái thanh niên xung phong năm xưa giờ tóc đã bạc. Nhưng ký ức về những năm tháng chiến đấu vẫn còn nguyên trong tâm trí họ.
Đó là ký ức về những cuộc hành quân xuyên đêm, những trận bom bất ngờ, những đồng đội ngã xuống và cả những phút giây tưởng như không thể vượt qua.
Nhưng trên tất cả vẫn là một niềm tin: đất nước nhất định phải thống nhất, non sông nhất định phải thu về một mối.
Từ những người lính trẻ rời quê hương năm 18 tuổi, những nữ thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn đến những người lính tiến vào Dinh Độc Lập trong buổi sáng lịch sử 30/4/1975, mỗi người góp một phần tuổi trẻ, một phần máu xương và một phần cuộc đời mình vào thắng lợi chung của dân tộc.
Hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, những câu chuyện ấy càng trở nên quý giá. Bởi đằng sau hai chữ “hòa bình” là tuổi xuân của hàng triệu con người, là những mất mát không thể đong đếm và những hy sinh không gì bù đắp được.
Những nhân chứng lịch sử rồi sẽ lần lượt đi xa, nhưng ký ức của họ cần được gìn giữ, kể lại và trao truyền cho các thế hệ mai sau – để mỗi người hôm nay hiểu hơn giá trị của độc lập, tự do; biết trân trọng hòa bình và càng thêm tự hào về một thế hệ cha anh đã sống, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc.



