NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI CỦA TÔI
Tháng 4 này họ lại gặp nhau. Lần gặp này với họ là quan trọng lắm, bởi hai năm rồi dịch bệnh Covid-19 đã làm gián đoạn những lần tề tựu đông vui thường niên mỗi năm đôi lần vào ngày nhập ngũ và ngày đi B. Và nữa, chỉ còn khoảng thời gian rất ngắn nữa là kỷ niệm 50 năm Tiểu đoàn 655 Hải Hưng (23.4.1972) - những người lính Miền Đông Nam bộ đã góp phần không nhỏ trong chiến thắng huy hoàng nửa thế kỷ trước, 30.4.1975!
Họ, những nhân vật nòng cốt của những đơn vị thuộc Quân khu 7 trong những trận chiến cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước oai hùng của dân tộc. Máu xương đã đổ xuống, những người làm nên chiến thắng đã lành lặn trở về “trông chết cười ngạo nghễ” (Bài thơ “Đợi anh về” của Si-mô-nôp, nhà thơ Nga), nhưng còn lại những ai đã nằm xuống mãi mãi ở mảnh đất miền Đông gian lao mà anh dũng, ai còn mang dấu tích chiến tranh trong cơ thể, còn những ai người thân của họ chưa một lần được biết mộ chí đang ở đâu? Và nữa, di chứng chất độc da cam trong họ đang gặm nhấm tàn dư sức khỏe con cháu họ không chỉ một, hai đời…
Đã rất nhiều lần tôi được chứng kiến sự lạ lùng hay có thể nói là kỳ diệu của cuộc sống qua mưa bom lửa đạn. Trước hết là chính mình. Lần ấy (tháng 4 năm 1974), sau khi giải phóng đường 2 (giờ đổi là quốc lộ 56), đơn vị tôi nhận lệnh đi phục kích địch ở Cẩm Mỹ (bây giờ thuộc tỉnh Đồng Nai). Tranh thủ lúc địch chưa vào, chúng tôi trèo lên hái xoài đã chín ở rẫy gần đó. Đây là vùng cài răng lược hay còn gọi là da beo, ta và địch đóng xen lẫn nhau. Đang ở tít trên ngọn cây xoài cao 6-7 mét, cành vắt vẻo đưa tay ra hái quả thì nghe bên dưới đồng đội quát nhỏ: “Địch vào! Về hầm ngay!” Không mảy may suy nghĩ, tôi nhảy bộp xuống đất, ôm khẩu AK chạy biến về hầm của mình vừa kịp nghe tiếng B40 của ta nổ ầm và phía bên địch AR15, M79 thi nhau trút đạn. Hú vía, nhìn lại mình chả thấy làm sao!
Đánh trận Bảo Bình tháng 9 cùng năm, hầm tôi có tôi và Nhữ Đình Tính quê Tráng Liệt, Bình Giang (Hải Dương), sau này hy sinh khi chỉ huy đánh trận ở La Ngà, Đồng Nai. Tính phụ trách, thêm một chú lính mới tên Thuận quê Quỳnh Lưu (Nghệ An). Lính mới nhưng hơn tuổi và đã có vợ, lại là người dân tộc, nói rất nhẹ nhưng ríu rít như chim, nghe mãi chẳng hiểu hắn nói gì, nhiều lúc phải khoát tay làm dấu để hỏi. Chiến dịch Bảo Bình kéo dài hơn một tháng, thắng lợi các trận đánh của ta đã nhiều lần được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Cứ vài ngày một trận. Chúng tôi bố trí trận địa ở rẫy trồng chuối của dân vì khu này không có rừng. Địch hôm nào nống ra, ta nổ súng là chúng rút chạy sau đó nằm ở đâu đấy chỉ huy cho lính thi nhau trút đạn. Hôm ấy địch vào, chúng tôi xông ra đuổi địch, có hai thằng địch với khẩu đại liên bắn rất rát về phía chúng tôi. Không tiếp cận được, trung đội trưởng Khanh (quê Nghệ An) bò mé sau đến gần sát cửa hầm, trên vai anh là khẩu B40. Chỉ nghe “Bùng!” một tiếng, khẩu đại liên tắt ngấm và anh Khanh liền đó ôm mặt chạy về, máu chảy chan hòa do mảnh đạn cắt đứt tĩnh mạch thái dương bên phải. Chúng tôi lạ: Sao đạn B40 bắn ở khoảng cách 2 mét lại có thể nổ? Theo nguyên lý, liều phóng quả đạn phải sinh lực phóng xa ngoài 5 mét mới đủ sức vuốt không khí tạo lực đập cho hạt nổ, vậy mà…
Hôm sau gần trưa địch lại vào. Tiếng súng lại thi nhau nổ chát chúa trong rẫy chuối. Chúng tôi được lệnh tiêu diệt địch. Tính đi giữa, tôi và Thuận kẹp hai bên. Mới chạy được vài chục mét chợt nghe tiếng “Ối!”, nhìn lại không thấy Thuận đâu. Một vạt cỏ tranh cao quá đầu người liền đấy bị ẹp hẳn xuống. Tôi và Tính phát hiện ra, Thuận bị rơi xuống giếng đất, sâu lắm, lắng tai nghe tiếng cậu ta nhỏ như tiếng mèo kêu. Chúng tôi nhìn nhau, Tính khoát tay: “Mày chạy về, tháo hết dây võng mang ra đây kéo nó lên!” Chúng tôi lấy dây của 4 chiếc võng nối vào để kéo lên từng thứ một: Đầu tiên là khẩu AK và can nước 5 lít, lần thứ hai là bao đạn đeo ngực có 3 băng đạn đầy và túi đạn rời 500 viên, kèm theo là cái cuốc Mỹ (loại cuốc này gập vào có mũi nhỏ như cuốc chim để cuốc, bẻ thẳng ra thì thành cái xẻng rất sắc, chúng tôi rất thích loại cuốc này, đi đâu cũng mang theo). Lần thứ ba chúng tôi kéo Thuận lên. Chả hề hấn gì, chỉ có một gương mặt tái mét! Tái đến nỗi, như chàm đổ. Và run. Trời ạ, sao nó run thế? Và cậu ta nói tiếng gì đấy giống như mèo con kêu, đại loại vậy. Tính quát nhỏ: Chạy về! Thế là cậu ta chạy biến. Nhưng ngay lập tức tôi và Tính phải lao theo kéo cậu ta quay trở lại vì mất phương hướng, đâm đầu về phía địch. Ba ngày liền sau đó cậu ta sợ, suốt ngày run và rên. Bình thường thì rên bé, nhưng khi nghe tiếng địch vào thì cậu ta rên to đến mức đứng xa 50 mét nghe rõ tiếng. Chúng tôi phải báo cáo đại đội trưởng Nông Văn Trường cho cậu ta về tuyến hai, kẻo địch bò vào đánh lén khác gì chúng tôi “lạy ông con ở bụi này”! Tôi và Tính bỏ dây kéo Thuận ra đo: Giếng sâu 11 mét! May mà giếng khô (vì tháng 11 đang là mùa khô), mang ngần ấy thứ trên người rơi xuống ở độ cao vậy mà không sao, nghe thật khó tin?!
Lần phục kích tại Đồng Dầu mới cam go. Nơi đây cách Trường bắn Vạn Kiếp của địch ở thị xã Bà Rịa chỉ khoảng 4-5 ki lô mét. Đánh trận xong, chúng tôi vận động về cứ ngay. Bởi đã thành quy luật, nếu không chạy nhanh về thì lãnh đủ pháo bầy từ Núi Đất (Bà Rịa) chụp sang. Căn cứ này của Tiểu đoàn lính Niu Di-lân, lính ta gọi là “Dàn nhạc Tân Tây Lan”. Hai mươi bốn khẩu pháo bắn tan tác những gì mà chúng phát hiện, từ đạn nổ thường, đạn khoan hầm và cả đạn nổ từ trên trời chụp xuống (thường khi truy đuổi ta, chúng bắn loại đạn này, vô cùng nguy hiểm vì tính sát thương cao. Chính tôi bị quả pháo này nổ trước mặt ngay vài chục phút sau đó, tuy không bị thương nhưng rách màng nhĩ cả hai tai, máu chảy dầm dề, hơn một tuần liền không nghe được gì). Gọi là pháo bầy vì hết loạt đạn này lại nối tiếp loạt khác, ta không thể nghe tiếng đề-pa (tiếng đầu nòng) mà tránh. Chúng tôi chạy theo đường mòn về căn cứ, tắt qua căn cứ cũ của quận ủy Châu Đức trước đây, qua sông Xoài là an toàn. Nhưng mới chạy khoảng 10 phút thì rầm rầm trên đầu hàng loạt máy bay A37 đuổi theo phóng hỏa tiễn xuống đội hình. Chúng cũng bắn bừa thôi dựa theo đường chúng tôi chạy, khói bay mù trời. Lính ta chạy tản mát nhiều đường, cứ cắt rừng mà chạy không ai bị thương do tên lửa của máy bay, nhưng…
Tốp chúng tôi 5 người một hàng dọc chạy về hướng căn cứ quận ủy Châu Đức. Tôi chạy cuối vì sức khỏe yếu do vừa sốt rét đi viện về hôm trước. Đây cũng là trận đầu tiên tôi chính thức trở thành lính chiến. Có bạn trẻ sau này nghe kể hỏi tôi: “Chú có bắn được thằng địch nào không?” Trời ạ! Đi trận, cả một đơn vị cùng nổ súng, ta địch đối mặt nhau, có phải chỉ có hai người chĩa súng vào nhau đâu. Diệt được bao nhiêu địch đều là tập thể, về nhà bình công. Nếu diệt được nhiều địch thì công đầu là của anh bắn đạn cối 60 ly, sau đó đến B41, rồi B40, rồi AK, cứ thế chia ra cho đủ để báo công. Cái anh bắn đạn cối quê Thanh Oai (Hà Nội) tài lắm, bắn nhiều quen đến mức chỉ ngả đầu khẩu cối xuống bao nhiêu độ đấy là bỏ đạn vào, chính xác tuyệt vời. 100 mét là 100 mét; 50, 70, 30 mét không sai tẹo nào. Đông địch, dính phải “cối ông Chứ” cứ gọi là “ngả rạ”. Lại nói đang chạy về cứ, một tiếng nổ rung trời trước mặt, cả tốp chạy ngã nhào bất tỉnh. Sau khoảng một phút tỉnh lại, nhìn 4 người trước tôi thân hình đẫm máu. Ba người chạy trước tiên nằm im bất động, người kế tôi thì thoi thóp, từ mặt đến toàn thân máu me bê bết. Đó là anh Tiến quê Nghệ An, dáng người cao to, là trung đội phó trung đội ba cùng đại đội với tôi. Biết mình không việc gì, tôi bò lại xem anh Tiến bị thương thế nào. Ôi, khó hình dung được thương tích trên người anh lại nặng đến thế. Cơ thể như nát bét từ đầu mặt xuống chân tay, rõ nhất là hai dòng máu chảy dầm dề hai bên ngực, một bên những mảnh phổi trắng hồng cứ thi nhau chảy ra hòa lẫn với máu. Tôi nức lên gục xuống không biết làm gì, “anh Tiến ơi!” Rồi sau đó vì quá hoảng sợ, tôi lập cập lấy cuốn băng ra băng cho anh. Nhưng làm sao băng nổi? Lại xé cả áo cuốn vào vết thương, nhưng máu cứ chảy thành dòng ào ạt, chảy cuồn cuộn. Tôi nghĩ, chắc không sống được rồi. Anh Tiến thều thào: “Tú à, thôi để anh chết. Đau lắm.” Đau quá - một tai nạn hy hữu, oan nghiệt do chính mình dính bẫy quân mình. Đó là khi bỏ căn cứ cũ, Quận ủy Châu Đức đã gài lại quả đạn pháo 155 ly (loại đạn pháo “Vua chiến trường”) chưa nổ; buộc vào nó là quả lựu đạn US tức thì. Một sợi dây giăng ngang đã cướp đi sinh mạng của 3 chiến sĩ vào hàng “công” của Đại đội 6, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 33 anh hùng chúng tôi. Mắt đẫm lệ, tôi thất thểu nhặt súng, chậm rãi đi về sông Xoài gặp đơn vị. Vừa trèo qua cây gỗ đổ như chiếc cầu qua sông, tôi lại dính pháo chụp như đã kể trên…
Đấy là chuyện “đánh nhau” với địch, nhưng tôi bắt gặp điều kỳ diệu xảy ra hơn một năm sau đó khi được lệnh ra Bắc khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng. Tháng 10.1975, tôi tập trung ở thị xã Long Khánh chờ tàu về quê hương. Thế nào mà người tôi tưởng đã xanh cỏ từ lâu lại xuất hiện lù lù trước mặt: - Anh Tiến thật sao? - Chứ không tau thì ai? Anh Tiến đây! Nom anh khá khỏe mạnh nhưng chân phải hơi khập khiễng do bị mảnh pháo làm giập nát xương đùi. “Rứa là tốt rồi, tau tưởng bỏ mạng. Thôi, chiến tranh mà, về với mẹ sống tốt nhé, gặp ai cùng đơn vị cho anh hỏi thăm, nói Tiến vẫn còn”…
Tháng tư về. Những người lính Tiểu đoàn 655 - những người lính E33, lính miền Đông năm xưa lại tề tựu họp mặt mừng chiến thắng. Ngẫu nhiên ngày nhập ngũ của họ lại trùng với dịp kỷ niệm chiến thắng oai hùng. Họ lại kể cho nhau nghe về ký ức một thời hoa lửa. Những mái đầu bạc, những hàm răng ông lão lại phều phào: “Mày có khỏe không?” Ờ, họ chỉ nói với nhau như vậy thôi, và mong cho nhau sức khỏe là điều tốt nhất, cần nhất bây giờ. Có phải không các bạn, chuyện hôm nay còn có thể kể mãi về sau, về quá khứ hào hùng của một dân tộc đã nhiều lần viết nên lịch sử huyền thoại.


