NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC BÁC HỒ ĐẶT TÊN: “TRƯỜNG, KỲ, KHÁNG, CHIẾN, NHẤT, ĐỊNH, THẮNG, LỢI”

Sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, để bảo toàn lực lượng, các cơ quan Trung ương của ta được lệnh di chuyển về vùng căn cứ địa Việt Bắc.
Bộ phận đi với Bác ngày ấy rất gọn, có tám người kiêm nhiệm mọi việc, từ cảnh vệ đến công tác văn phòng, thư ký, liên lạc và phục vụ hậu cần. Công tác bảo mật lúc này được đặt lên hàng đầu, chỗ ở luôn thay đổi, Bác làm việc rất căng thẳng. Mỗi khi đến nơi ở mới ổn định là Bác lại nhắc anh em chú ý học thêm văn hóa, còn Bác trực tiếp phổ biến tình hình thời sự cho nghe.
Ghi lại những sự kiện không thể quên được trong cuộc đời của mình, đồng chí Vũ Kỳ cho biết: Khi rời chùa Thầy qua đất Trung Hà sang miền Trung du, dừng lại ở xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ vào tối 05/3/1947. Hôm ấy là một tối sáng trăng, đêm đã về khuya mà vẫn thấy Bác đi bách bộ ngoài sân, dáng trầm tư suy nghĩ, vận mệnh Tổ quốc đang đặt trên vai Người - vị lãnh tụ tối cao của toàn dân tộc.
Sáng sớm ngày 06/3, Bác gọi anh em đến hội ý. Cái rét tháng 3 ở đất trung du như được nhân lên gấp bội. Anh em ngồi quanh Bác tạo thành vòng tròn ấm áp. Nhìn các đồng chí đầy tự tin, giọng Bác trầm ấm căn dặn: “Chiến sự đang ngày một lan rộng, bây giờ các chú phải sinh hoạt quân sự hóa, đi ôtô không tiện nữa, dễ bị lộ. Ai có xe đạp thì sử dụng, những người còn lại sẽ đi bộ, tất cả phải đi nhanh. Các chú may cho mỗi người một chiếc ba lô để đựng đồ dùng và cũng may cho Bác một cái để Bác đeo máy chữ”. Rồi Bác nói đến tình hình chiến sự và đường lối kháng chiến của ta. Phổ biến xong, Bác hỏi:
- Các chú có thắc mắc gì không? Một anh mạnh dạn hỏi Bác:
- Thưa Bác, chúng cháu nghĩ mãi mà vẫn chưa hiểu tại sao lại phải đánh trường kỳ, vì đánh như vậy hại người tốn của lắm.
Bác phân tích cho mọi người thấy rõ các mặt lợi hại rồi đưa ra một hình ảnh cho dễ hiểu: Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu, thế giặc lúc này như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức mà đánh bừa thì sao chắc thắng được? Phải vừa đánh, vừa nuôi cho sức mình khỏe lên. Khi sức đã khỏe, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy sẽ chắc thắng.
Bác dừng lại mỉm cười, rồi nói:
- Các chú ở đây nếu gọi tên các chú thì dễ lộ nơi Bác ở. Từ nay để giữ bí mật và cũng để thể hiện quyết tâm kháng chiến của chúng ta, hôm nay Bác sẽ đổi lại tên cho các chú là: “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi”. Vừa nói Bác vừa lần lượt chỉ từng người. Không cố ý sắp đặt mà vừa đủ 8 người. Rồi Bác hỏi:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên cho các chú như vậy không?
Mọi người ngồi im chưa hiểu thì Bác giải thích: “Nhiệm vụ chính của Bác hiện nay là cùng toàn Đảng, toàn dân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi; đó vừa là nhiệm vụ trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài. Cho nên Bác đặt tên cho các chú như vậy, cũng để hằng ngày nhìn thấy các chú hoặc gọi tên các chú là nhắc nhở Bác cố gắng hoàn thành nhiệm vụ”. Lúc đó mọi người mới hiểu ý Bác, niềm vui được lan tỏa. Từ đó các anh có tên mới, tên các anh trở thành khẩu hiệu sống khi ở bên Bác. Lúc đó, anh Tạ Quang Chiến là người ít tuổi nhất, mới 21 tuổi. Người nhiều tuổi nhất là anh Hoàng Hữu Kháng, mới hơn 30 tuổi. Điều đặc biệt là theo thứ tự Bác đặt, bốn người Trường, Kỳ, Kháng, Chiến trong khẩu hiệu ái quốc đều là con em dân tộc Kinh. Bốn người còn lại Nhất, Định, Thắng, Lợi lại là người dân tộc miền núi sớm giác ngộ cách mạng. Việc đổi tên cho các anh trong tổ công tác, hay khi Bác đặt tên cho ngọn núi, dòng suối đầu nguồn (núi Các Mác, suối Lênin) đâu phải là chuyện ngẫu nhiên. Đó là ý chí quyết tâm, là tấm lòng son sắt, là tình sâu nghĩa nặng, hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí bảo vệ và giúp việc tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
Trong suốt chặng đường trường kỳ kháng chiến, 8 người được Bác đặt tên mỗi khi có đồng chí nào thay đổi công việc, người khác vào thay lại được mang tên đó để khẩu hiệu kháng chiến luôn được liên tục.
“Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” trở thành khẩu hiệu tuyên truyền võ trang ở từng xóm, từng bản. Mỗi khi cơ quan chuyển địa điểm, các anh lại đi vào trong dân vừa tuyên truyền về cuộc kháng chiến, vừa nắm tình hình địa phương. Được giác ngộ, người dân trở thành vành đai bảo vệ, mỗi khi có tình hình khác lạ, dân địa phương đều báo ngay cho các anh biết.
Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi đã đi theo Bác suốt những năm tháng dài gian khổ mà vẫn hứng khởi và đầy khí thế. Lạ thay, sức mạnh của tổ 8 người đặc biệt ấy, các anh phần lớn đều đi theo cách mạng từ sớm, giàu ý chí và rất trung kiên. Tuổi trẻ các anh mang theo trong lòng tình yêu quê hương sâu nặng, sống chân thành, mộc mạc, thủy chung. Mỗi người một vẻ, mỗi người một phong cách và tài năng, đặc biệt là tài bắn súng, giỏi võ, quen thông thổ, địa hình...
Theo Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2003.
1. Ngoài những đồng chí được mang tên Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi, Bác còn đặt tên cho một số đồng chí khác làm việc gần Bác như Cần, Kiệm, Liêm, hay nhóm các đồng chí mang tên Kiên, Quyết, Đồng, Tâm. Tài liệu về các đồng chí còn hạn chế do các đồng chí không ghi lại hồi ức hoặc nhiều đồng chí đã chuyển công tác từ lâu.



