NHỮNG NGƯỜI GIỮ TRỜI BIÊN CƯƠNG (1)
“Những người giữ trời biên cương” – Chuyện kể về thời hoa lửa ở Tả Gia Khâu
Ông: Lý Xuân Phà, sinh năm 1964 kể lại vào một buổi chiều bảng lảng gió núi. Ông ngồi trước hiên nhà, mái tóc bạc trắng như sương đầu núi, dáng người rắn rỏi nhưng in đậm dấu vết của thời gian. Khi tôi ngỏ lời xin ông kể lại ký ức của “thời hoa lửa”, ông bỗng lặng đi. Ánh mắt trĩu nặng u hoài của ông nhìn xa xăm, mãi một lúc lâu sau mới khẽ cất lời.
“Cháu biết không… Tả Gia Khâu năm 1979 chẳng bình yên như bây giờ đâu.”
Ông kể rằng cuộc chiến năm ấy diễn ra ác liệt đến nghẹt thở. Suốt một đêm và nửa ngày, quân ta giằng co với quân Trung Quốc. Đồn đóng ở quả đồi phía sau Trường Tiểu học Tả Gia Khâu bây giờ, lính thì chẳng có bao nhiêu, vậy mà mỗi người vẫn chia nhau bám chốt trong những hầm đào vội giữa đêm lạnh cắt da.
Một sáng nọ, khi tin tình báo báo về rằng ngày mai quân Trung Quốc sẽ tấn công, cả bản đã nháo nhác. Người dân ôm bao ngô, bao sắn chạy vội vào các hang đá, men theo sườn núi mà lánh nạn. Có nhà vừa bày mâm cơm trưa chưa kịp chạm đũa thì tiếng pháo, tiếng súng đã nổ liên hồi từ phía Lồ Sử Thàng, rồi lan sang Sín Pao Chải.
“Người dân chạy tán loạn… người già yếu không kịp đi. Bom rơi làm đất đá tung trắng cả mái đầu. Nhà cửa cháy rụi. Trâu bò, gà lợn chết sạch. Nhưng không ai bỏ chạy, không ai rời vị trí…” – giọng ông khàn đặc.
Khi quân địch áp sát đồn, lính ta chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Người cầm súng, người tiếp đạn, người truyền tin… Tất cả đều chạy không kịp thở, chứ đừng nói đến chuyện ăn uống. Mọi mệnh lệnh đều gói gọn trong câu nói quen thuộc:
“Vì Tổ quốc – bảo vệ biên giới thiêng liêng.”
Bằng ý chí quyết tâm giữ vững độc lập chủ quyền, quân ta chọn vị trí hiểm trở phía sau thôn Lao Tô để bố trí lực lượng, tạo thành một “cái bẫy” chiến thuật. Khi quân Trung Quốc tiến công, bộ đội ta đồng loạt phản kích. Vũ khí hiện đại của địch bị vô hiệu hóa bởi sự linh hoạt và gan góc của những người lính quen chiến đấu trên từng thớ đất quê hương.
Tiếng súng xé trời. Khói bụi mịt mù. Và rồi chiến thắng thuộc về ta.
Ông Phà kể rằng, trong những ngày khốc liệt nhất, dân bản không ngại hiểm nguy, lén men theo đường rừng, mang từng bao ngô, bao sắn, can nước lên tiếp tế cho bộ đội. Tình quân dân khi ấy bền chặt như đá núi Tả Gia Khâu.
Đêm cuối cùng của trận chiến, khi loạt pháo sau cùng vừa dứt, cả Tả Gia Khâu chìm trong một thứ ánh sáng đỏ kỳ lạ – ánh lửa, ánh trời bị xé toạc bởi pháo, và ánh kiên cường trong mắt những người lính. Họ đứng cạnh nhau, người lấm lem bùn đất, áo rách tả tơi nhưng vai vẫn kề vai. Không ai nói gì, nhưng ai cũng hiểu: họ đã không lùi.
Rồi chiến tranh cũng qua đi. Bà con trở về dựng lại nhà cửa. Bộ đội trở về đồn, nhóm lại bếp lửa. Núi rừng Tả Gia Khâu lại xanh. Nhưng ký ức của “thời hoa lửa” thì còn nguyên đó, như còn đọng lại trong từng lối mòn, từng vạt rừng.
Ông Phà khẽ thở dài:
“Hôm nay được sống yên ấm, nhà nhà hạnh phúc – tất cả đều nhờ bao máu xương của những người đã ngã xuống. Các cháu phải nhớ ơn họ. Phải nhìn lại quá khứ để biết trân trọng ngày hôm nay.”
Nghe ông kể xong, lòng tôi như lặng lại. Tôi thấy biết ơn đến nghẹn ngào với thế hệ đi trước – những con người đã vượt qua hiểm nguy để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Và tôi hiểu rằng, mỗi chúng ta hôm nay cần sống có trách nhiệm hơn, trân trọng hiện tại hơn, và gìn giữ những giá trị mà cha ông đã để lại.
Tả Gia Khâu hôm nay bình yên. Nhưng trong lòng núi, tiếng vọng của những người lính từng đứng vững giữa “thời hoa lửa” vẫn chưa bao giờ lặng tắt.


