NHỮNG NGƯỜI KHÔNG TRỞ VỀ
Tháng 9/1972, tin chiến thắng từ chiến trường miền Nam dồn dập truyền về hậu phương lớn miền Bắc: Chiến dịch Kon Tum, Chiến dịch đường 13 - Bình Long, Chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị.
Để chi viện cho mặt trận, đợt tuyển quân lần thứ 3 trong năm được tiến hành bổ sung quân cho chiến trường. Tại Nguyên Bình (Cao Bằng), số anh em được gọi nhập ngũ tập trung tại Đề Thám thuộc huyện Hòa An (nay là Thành phố) cùng anh em các huyện trong tỉnh chuẩn bị hành quân về đơn vị huấn luyện. Đang thất vọng chưa được tòng quân thì nhận được lệnh gọi bổ sung, trong đó có tôi (Hoàng Mạnh Hùng) và Hà Quốc Hùng. Ngày 11/9/1972 có mặt tại đơn vị nhận quân, lĩnh quân trang, biên chế vào Đại đội 2, Tiểu đoàn 77, Sư đoàn 304b. Rời Cao Bằng, chúng tôi lên xe, cơ động một ngày để về nơi đóng quân tại xã Tân Kim, huyện Phú Bình, Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên).
Sau hơn 3 tháng huấn luyện, ngày 17/1/1973, Tiểu đoàn làm lễ xuất quân lên đường ra chiến trường. Sau gần 3 tháng hành quân cơ động bằng tàu hỏa, ô tô, ca nô, chủ yếu hành quân bộ từ Cự Nấm (Quảng Bình) qua cao nguyên Bô-lô-ven của nước bạn Lào, đơn vị đến chiến trường Bắc Kon Tum. Cả 4 người cùng xã cũng như mọi tân binh khác được bổ sung về các đơn vị thuộc Sư đoàn 10 đóng quân xung quanh thị xã Kon Tum.
Tôi cùng 19 anh em quê Cao Bằng, Bắc Thái được chọn về Đại đội 54 trinh sát trực thuộc Phòng Tham mưu Sư đoàn; Hà Quốc Hùng được biên chế về Tiểu đoàn đặc công K37; Hoàng Văn Tâm và Vi Quốc Ngôn được điều về Tiểu đoàn 31 công binh. Chia tay nhau, 4 anh em động viên nhau quyết tâm vượt qua mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, xứng với truyền thống Phai Khắt - Nà Ngần.
Chúng tôi bắt đầu làm quen với điều kiện chiến trường như: huấn luyện kỹ chiến thuật bổ sung bởi lúc này cả ta và địch đang thực thi Hiệp định Pa-ri, xây dựng chốt bảo vệ mà bộ đội gọi là công tác cắm cờ giữ đất. Khẩu phần ăn 0,8 kg gạo/ngày bị cắt giảm còn 0,4 kg/ngày, lại không có sắn, ngô để thêm khẩu phần, cái đói cứ hành hạ làm chúng tôi hoa mắt, kiệt sức và bị sốt rét ác tính. Mùa mưa Tây Nguyên kéo đến cũng là lúc chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định Pa-ri, hô quân tái chiếm vùng giải phóng và những trận đánh ác liệt, đẫm máu diễn ra xung quanh thị xã Kon Tum.
Thế rồi 2 mùa mưa, 2 năm lăn lộn tại chiến trường Bắc Tây Nguyên đầy ác liệt và hy sinh gian khổ cũng trôi qua. Năm 1974, ta giải phóng được cứ điểm Đắc Pét, Chi khu Măng Buk, Măng Đen nhưng thị xã Kon Tum vẫn do địch kiểm soát. Tại chiến trường Kon Tum, 4 anh em cùng xã ở 3 đơn vị khác nhau đứng chân bên núi Chư Mo Ray, núi Chư Cô Tông cách nhau chỉ nửa buổi đi đường nhưng mỗi người một nhiệm vụ, không bao giờ gặp nhau cho đến lúc kết thúc chiến tranh. Tôi là chiến sĩ trinh sát nên cơ động khắp nơi, lúc thì Đông Bắc, lúc Tây Bắc thị xã Kon Tum để nắm tình hình địch và chuẩn bị chiến trường phục vụ cho các đơn vị tác chiến. Hà Quốc Hùng được cử làm chiến sĩ báo vụ K37 đặc công, cùng đơn vị tham gia các trận đánh chống lấn chiếm. Hoàng Văn Tâm và Vi Quốc Ngôn là công binh phải có mặt trên các bến đò chở bộ đội qua lại sông Pô Kô, sông Đắc Bla, mở đường cho việc cơ động xe, pháo, làm đường lên các điểm cao để ta đưa pháo lên đánh địch.
Mùa khô năm 1974, Sư đoàn bí mật hành quân về Nam Tây Nguyên tham gia chiến dịch tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Tiểu đoàn đặc công K37 được biên chế về Trung đoàn đặc công 198, trước chiến dịch được cơ động sang Hạ Lào để huấn luyện cũng có mặt tham gia trận đánh điểm huyệt lịch sử. Khi toàn mặt trận nổ súng, ngay trong đêm lực lượng đặc công đã bí mật, bất ngờ đánh chiếm kho Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình (sân bay Buôn Ma Thuột ngày nay) và một số mục tiêu quan trọng, tạo điều kiện cho các lực lượng khác đột kích thắng lợi. Hà Quốc Hùng cùng đồng đội nhanh chóng đánh chiếm được sân bay và chốt giữ tại đây. Ngày hôm sau, tàn quân địch từ Trung đoàn 53, Trung đoàn 45 ngụy rút chạy về co cụm tại sân bay chờ lực lượng tăng viện phản kích chiếm lại thị xã Buôn Ma Thuột. Dù là tàn quân nhưng có quân số và vũ khí áp đảo, chúng đã bao vây sân bay, quyết đánh chiếm bằng được. Lực lượng đặc công chốt giữ tại đây không cân sức, vũ khí, đạn dược không còn nên chiến đấu quyết liệt và hy sinh anh dũng trước khi các lực lượng bộ binh đến chi viện.
Khi kết thúc chiến dịch, tôi đau đớn nhận được tin người bạn, người đồng đội thân yêu cùng tuổi, cùng tên, cùng quê đã hy sinh. Sau này gặp người cùng tham gia trận đánh chiếm sân bay Hòa Bình kể lại, tôi mới biết trường hợp hy sinh của anh: Chiều 9/3/1975, đơn vị đặc công của Hà Quốc Hùng bí mật luồn sâu thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Hòa Bình nằm cách thị xã Buôn Ma Thuột 10 km về phía Đông. Khi tới giờ nổ súng, đơn vị nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu, làm chủ sân bay không để địch chi viện bằng đường không cho Sư đoàn 23 nguỵ. Phân đội đặc công chốt giữ sân bay đã gần hết cơ số đạn trong khi đánh chiếm mục tiêu. Sáng 10/3/1975, tàn quân ngụy từ căn cứ Trung đoàn 45, Trung đoàn 53 tháo chạy co cụm về tổ chức đánh chiếm lại sân bay lập căn cứ chờ tăng viện. Dù là chiến sĩ báo vụ, Quốc Hùng cùng với đồng đội dũng cảm đánh trả địch nhưng do quân địch đông, hỏa lực áp đảo, anh em lần lượt hy sinh. Quốc Hùng trước đó bị thương nặng được đưa ra khỏi vòng vây nhưng đã không qua khỏi ở tuổi 21 đầy ước mơ, hoài bão.
Sau này, nhiều lần trở lại Tây Nguyên thăm chiến trường xưa, tôi vẫn mắc nợ chưa một lần đến tìm phần mộ và thắp cho Hà Quốc Hùng một nén nhang. Năm 2015, tôi về Buôn Ma Thuột, có người bảo Quốc Hùng an nghỉ ở Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố. Trong tôi lại thắp lên tia hy vọng, mặc dù sáng hôm đó tôi cùng đoàn đến thắp hương cho Vi Trung Kín, quê Quang Hán (Trùng Khánh), người cùng tiểu đội lúc huấn luyện và hành quân vào chiến trường, thắp hương cho liệt sĩ Bùi Gia Thiện, người Trung đội trưởng trinh sát quê ở Quỳnh Phụ (Thái Bình). Giữa buổi trưa nắng chói chang, một mình len lỏi ôm bó hương thơm tìm bạn qua các hàng bia có vần H. nhưng không thấy, mà chỉ tìm được mộ liệt sĩ Hoàng Phi Hùng, quê ở Tam Trung, thị xã Cao Bằng. Đặt hoa và thắp hương thầm cầu mong cho hương hồn các liệt sĩ, các đồng đội hãy yên nghỉ bên nhau mãi mãi.
Qua tìm hiểu mới biết, Trung đoàn đặc công 198 khi quy tập mộ các liệt sĩ đã đưa anh Hà Quốc Hùng về Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Plây Ku (Gia Lai). Các anh không trở về nhưng trở thành những chiến sĩ bất tử trong lòng Tổ quốc và nhân dân. Các anh hóa thân vào đất mẹ để viết nên bản hùng ca Tây Nguyên lộng gió, hào hùng vang mãi với thời gian.


