Khác

NHỮNG NGƯỜI LÍNH CÓ HAI TỔ QUỐC

Mùa khô 1968 trên đất Lào, giữa chiến trường ác liệt và thiếu thốn đủ bề, trạm xá tiền phương do bác sĩ Rạng phụ trách đã cứu sống một bé trai trong ca mổ sinh tử khi mẹ em hy sinh vì bom đạn. Đứa bé được đặt tên Phà Nừng, trở thành “con chung” của đơn vị, gắn kết tình đồng đội và nảy nở mối tình thầm lặng giữa nữ bác sĩ trẻ và anh Rạng. Khi chiến sự căng thẳng, em bé được giao cho y tá Thuỷ đưa về hậu phương nuôi dưỡng. Nhiều năm sau, Phà Nừng trưởng thành, còn những người lính năm xưa mỗi ngườ

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùa khô năm 1968, đơn vị tôi đang chiến đấu ở nước bạn Lào. Đội hình cụm chiến đấu gồm bộ binh, đặc công, cao xạ phối hợp với các đơn vị quân đội Pa-thét Lào từ cấp tiểu đoàn trở lên. Vì yêu cầu nên trạm xá được biên chế cơ cấu trung đoàn gồm hai bác sĩ, hai y sĩ, sáu y tá và một tiểu đội chuyển thương. Riêng tiểu đội chuyển thương còn kiêm thêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu với lính đặc biệt Vàng Pao, ngụy Lào, Thái Lan, ngụy Sài Gòn.


Dòng sông Sê gần như cạn kiệt, chỉ còn lại những vũng nước màu đen, đầy lá mục. Những bầy cá loi nhoi há miệng đớp không khí, sống thoi thóp. Thực phẩm đã có cá, nhưng nước dùng sinh hoạt lại thiếu. Cái khó ló cái khôn, trạm trưởng - bác sĩ Rạng đã huy động đào hàng chục cái giếng ven bờ sông để lấy nước. Trạm xá nằm ẩn mình dưới tán rừng cây khộp cạnh hang đá. Hàng ngày thương binh được đưa về càng nhiều: bộ đội Việt Nam, bộ đội Pa-thét Lào, người dân Lào. Máy bay Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt. Nhiều bản làng cháy rụi, dân bản chia ra từng nhóm, chạy vào rừng ẩn nấp, sinh sống, nương rẫy loi thoi từng khoảnh nhỏ. Dân đi đào củ mài về để ăn.


Buổi chiều, sau khi đã vơi bớt công việc, trạm chia ra hai kíp. Một kíp ăn cơm, kíp còn lại trực tải thương... Xế chiều, ánh nắng Tây Trường Sơn đẫm một màu vàng đặc quánh. Mâm cơm gạo hẩm, canh lá rau rừng, ba cà mèn cá luộc nhờ tổ anh nuôi hăng hái đi bắt dưới sông.


Nhân bữa ăn, bác sĩ Rạng tranh thủ giao nhiệm vụ. Giọng anh ồm ồm:

- Bữa ăn này mừng thắng lợi, có cá tươi, lấy một chai "cồn" ra đây, mỗi người làm một hớp... Này, cấm không được quá tiêu chuẩn đâu đấy nhé. - Anh nói, mắt cứ nhìn chằm chằm vào tôi.

- Chấp hành mệnh lệnh đi đồng chí thủ kho ơi! Cồn mình tự chế, pha thêm chút nước dùng tốt đấy. Bên dưới có ai đó nói thêm vào.

Tôi là bác sĩ quân y mới ra trường, vừa được bổ sung qua trạm ít hôm. Còn nhớ hôm mới đến, anh Rạng nhìn tôi cười phán: "Này O ni... Tôi phải thử tay nghề dao kéo của O đã. Giao cho O ba nhiệm vụ quan trọng nhé: thủ kho, nấu rượu, làm thịt chó". Nghe anh nói vậy, mặt tôi đỏ bừng, môi mím chặt chực bật ra tiếng khóc.


Quê tôi, vùng ngoại ô Hà Nội, tốt nghiệp bác sĩ loại ưu, tôi xung phong sang Lào làm nhiệm vụ, giao cho tôi những công việc ấy khác nào đang làm khó cho tôi. Tôi nghĩ bụng, định chống lệnh, nhưng lại nghĩ trên chiến trường quân lệnh như sơn nên đành lặng lẽ chấp hành. Ba việc được giao thì thủ kho - dễ ợt, nấu rượu rửa vết thương và nhất là làm thịt chó thì thật vất vả. Nghĩ đến chuyện của những ngày đầu mới về trạm mà lòng tôi cứ sôi lên. Hôm nay là cơ hội trả đũa.

- Báo cáo thủ trưởng! Cồn quý như máu. Cồn để dùng sát trùng vết thương, dụng cụ y tế. Nặng trên 50 độ, đem uống sao được.

- Đúng là thủ kho to hơn thủ trưởng thật. Cứ theo tỷ lệ, một anh cồn cõng ba anh nước sôi để nguội là thành rượu ngay. Chấp hành đi cô bé ơi.- anh Rạng cười, giọng anh vui vẻ hài hước.

- Thôi em đi lấy một chút ra đây đi, voi rừng Lào nhìn thấy anh Rạng còn khiếp, không chối được đâu... - Chị Thuỷ, y tá đang ngồi bên cạnh ghé vào tai tôi thủ thỉ.

Tôi miễn cưỡng đứng lên đi pha rượu mà trong lòng cảm thấy hậm hực, vừa đi vừa lau nước mắt. Đang vui vẻ, anh Rạng cao hứng tuyên bố lý do ăn mừng thắng lợi.

- Nhà sư chùa Phà đã đồng ý cho trạm ta mượn hai phần ba chùa làm nơi điều trị cho thương binh. Nhưng với một điều kiện là không được làm thịt chó và phải giữ vệ sinh sạch sẽ. Đó có phải là một tin tuyệt vời không? Ngày mai, ta tiến hành dọn dẹp và một số sẽ đào hầm trú ẩn bên đó.

Quá bất ngờ, bên dưới chúng tôi vỗ tay râm ran. Tiếng vỗ tay chưa dứt anh đã nói luôn: Còn một thắng lợi nữa là sư trụ trì chùa đã nhận được thư của bọn đặc biệt Vàng Pao hăm doạ, định chạy trốn đã tự nguyện ở lại chăm sóc thương bệnh binh... Bữa cơm đang vui vẻ trong tình cảm thân mật thì có hai người đàn ông trong bản khiêng một người nằm trong võng vải, máu đỏ thẫm một phần ba cánh võng vào bên trong.

- Bộ đội Việt ơi. Cứu con dâu tôi với... - Ông lão nói giọng hốt hoảng, bên cạnh là người thanh niên đang rướn mình đỡ đòn võng, thở hồng hộc, đưa tay kéo vạt áo lau mặt...

Bác sĩ Rạng vừa ngoắc ống nghe vào hai tai, người phụ nữ oằn mình, máu từ vết thương trên đầu, ở mình chảy ướt giường phẫu thuật. Anh Rạng thần kinh căng thẳng, mồ hôi lấm tấm trên trán, đưa ống nghe tim người phụ nữ. Chị gồng mình, rồi từ từ tắt thở. Anh Rạng phát hiện ra tim thai nhi vẫn đập thoi thóp. Lúc ấy, anh Rạng giống như người đang "lên đồng", mắt ánh ngời tia hy vọng, miệng nói nhanh: "Đem dụng cụ mổ, bằng mọi giá phải cứu lấy cháu bé!". Cuộc chạy đua với tử thần để cứu một cháu bé liệu có thành công không? Lúc ấy không ai tin. Chỉ có lòng hy vọng mãnh liệt bốc lên trong lòng. Với những động tác chính xác, nhanh gọn, khẩn trương cháu bé đã oe oe cất tiếng khóc chào đời trong niềm vui sướng của những người đang đứng chung quanh. "Một thằng cu...!" - Anh Rạng reo lên, lấy tay áo lau vội những giọt mồ hôi rịn ra trên trán.


Trong căn hầm trực của anh Rạng có một cái bàn nhỏ bằng gỗ Bạch Tùng, hai băng ghế bằng tre. Cụ già ngồi đối diện với bác sĩ Rạng, nét mặt u uất buồn bã, con dâu cụ đã mất vì vết thương quá nặng. Cũng may mà còn cứu được cháu bé, linh hồn người mẹ xấu số cũng được an ủi phần nào. Anh Rạng nghĩ bụng rồi hỏi cụ già, giọng anh ân cần chia sẻ.

- Bây giờ ý cụ thế nào ạ?

- Bộ đội ơi... Con dâu già chết rồi, chồng nó đi đánh Mỹ cách đây xa lắm. Già có đem cháu về thì cũng không nuôi được. Ta gửi bộ đội nuôi giúp ta. Khi nào con trai ta về sẽ đón nó về nuôi. Ông nói, rồi khóc hu hu. - Ông già run run, hai hàng nước mắt tuôn dài, giọng ông nấc lên nghẹn ngào. Hai khoé mắt bác sĩ Rạng nhòe đi, những dòng chữ trong trang bệnh án như nhảy múa trước mắt anh... Anh nghẹn ngào hướng dẫn cụ già ký vào các biên bản cần thiết rồi gọi hai chúng tôi vào ký tên người làm chứng. Tôi và chị Thuỷ run run ký vào tờ biên bản, ánh mắt chúng tôi rưng rưng nhìn cụ già, nhìn anh Rạng.

- Này hai cô kiều nữ chưa chồng. Hôm nay tôi giao cho hai cô nhiệm vụ làm mẹ đây. Phải hết lòng yêu thương chăm sóc đứa bé nhé. Chăm sóc thật chu đáo đấy. Có bằng làm mẹ thì tương lai dễ lấy chồng...

- Rõ...! - Hai chúng tôi đồng thanh thưa! Rồi vừa đi vừa lập kế hoạch chăm sóc đứa bé.

Trên đường đi tôi phân vân không biết bác sĩ Rạng nghĩ sao lại để tôi và chị Thuỷ nuôi cháu bé. Từ chuyện bế ẵm, bú, ỉa, đái của cháu đều lạ lẫm với một người con gái như tôi. Không khéo đây lại là một vố chơi khăm của ông Rạng cũng nên. Nghĩ vậy nên tôi buột miệng hỏi chị Thuỷ.

- Chị thấy có vô lý không? Hai chị em mình đều là gái tân lại bắt làm mẹ! Sao không cắt phiên nữ cả trạm thay nhau làm mẹ có hợp lý không!

- Em mới về, chưa biết được cái lý của anh Rạng đâu. Tuy cực kỳ gia trưởng, nhưng bốn năm sống ở trạm này chị biết những gì anh Rạng đã nói là có cái lý của anh ấy và đúng 100%. Ví dụ như trong cuộc họp chi bộ tối qua, anh Rạng với cương vị là bí thư đã kết luận em là thủ kho, nấu cồn, làm thịt chó... đều giỏi. Cái chính của anh ấy là thử thách để kết nạp em vào Đảng... chị là người trực tiếp...


Nghe chị Thuỷ nói vậy, tôi cũng thấy mừng. Nhưng ấn tượng của tôi với ông Rạng thật khó hiểu. Gặp nhau tôi chẳng dám nhìn vào mặt, cứ mở miệng ra là một điều thủ trưởng, hai điều thủ trưởng. Có lần gặp nhau trên đường ra giếng tôi chào ông ta là thủ trưởng, ông ta không những không đáp lại mà còn đủng đỉnh: "Này tiểu thư Hà Thành. Đây là đất Lào, nơi chúng ta đều là người lính cả. Đừng một điều thủ trưởng, hai điều thủ trưởng nữa. Mà này, có mười cái bằng bác sĩ cũng không đổi được một ngày tình nguyện tại đây đâu". Tôi thật sự bị choáng, quay sang chị Thuỷ bộc bạch.

- Em thật sự choáng chị Thuỷ ạ. Thấy chị cứ anh anh, em em nghe gần gũi làm sao! Còn mình thì chỉ biết gọi là "ông" thì làm sao mà hợp được cơ chứ?!

- Em nên lột xác đi. Anh Rạng đã 33 tuổi, có mười năm ở Lào... Người bằng ấy tuổi đầu mà chưa có mảnh tình vắt vai. Không riêng gì chị mà những ai đã từng sõng với anh Rạng, đều quý trọng và coi anh ấy như người anh cả trong gia đình. Chẳng qua là em chưa thực sự cởi mở mà thôi. Không tin khi nào gặp anh ấy em cứ gọi là "đồng chí anh" mà xem. - Chị Thuỷ động viên tôi.

Theo diệu kế chị Thuỷ bày cho, khoảng cách giữa tôi và anh Rạng đã ngày một ngắn dần. Nhưng quan trọng hơn là công việc làm mẹ thằng bé đã là động lực kéo tôi và anh lại gần nhau hơn. Tôi và chị Thuỷ được bố trí một hầm riêng. Tại đây, hai chúng tôi bắt đầu học cách làm mẹ. Những đêm đầu thằng cu khát sữa khóc eo óc suốt đêm, sau sữa hộp và nước cơm cháu đã quen dần với giờ giấc của chúng tôi, đêm xuống chỉ rúc rích một lúc là ngủ ngon lành. Hai chúng tôi thay phiên nhau làm mẹ. Hôm nào tôi làm mẹ, chị Thuỷ lên làm công tác chuyên môn và ngược lại.


Chiến trường ngày càng ác liệt, thương binh đưa về ngày càng nhiều. Có ngày anh Rạng phải mổ hơn chục ca, nhìn đôi mắt anh thâm quầng mà tôi thấy thương thương. Thỉnh thoảng vào mỗi buổi tối, khi công việc đã giãn, anh lại ghé qua hầm của "ba mẹ con" chúng tôi. Hôm thì đưa cho hộp sữa, khi ít mật ong và bao giờ anh cũng xuất hiện cùng câu nói nghe mãi đến phát ngán "Răng rồi mấy o! Thằng cu ngoan chứ!", rồi ôm hôn chùn chụt lên má nó. Anh nựng nghe cứ như đã mấy lần làm bố rồi ấy: "Cún yêu à! Con lớn lên khi đó nước Lào đã thống nhất hoà bình rồi đấy. Nhớ đến những ngày này con nhé!". Có những hôm thằng bé sốt li bì, anh thương hai chị em tôi vất vả nên ngồi trực cả đêm. Có thể nói anh đã làm tròn bổn phận là bố của đứa bé thì đúng hơn.


Thấm thoắt thế mà sắp hết năm Mậu Thân, nghe tin ở quê nhà là một năm ta thắng lớn nhưng cũng phải đổi bằng máu. Hôm nay là ngày hạnh phúc của đời tôi. Tôi được kết nạp vào Đảng. Đứng nghiêm trang đọc lời tuyên thệ mà niềm xúc động dâng trào, tôi đã khóc vì sung sướng. Tối về, tôi đã chong đèn viết vội lá thư về nhà khoe với bố mẹ. Trước đây bố tôi được kết nạp Đảng thời chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) còn giờ đây tôi được kết nạp Đảng trên chiến trường Lào. Đêm qua tôi và chị Thuỷ nằm ôm thằng cu ngủ. Lạ thật! Chị Thuỷ nằm khóc thút thít. Tôi gạn hỏi mãi nhưng chị cứ ậm ừ: "... Tối mai thì biết, hỏi gì hỏi lắm thế?". Không biết có chuyện gì hệ trọng mà phải đợi đến mai?! Tôi phân vân, từ ngày về trạm, hai chị em coi nhau như chị em gái, niềm vui nhân đôi, nỗi buồn chia sẻ, ngay cả những bức thư tình hồi còn học bên Liên Xô tôi cũng đem ra đưa chị đọc. Đọc rồi chị khuyên: Thằng ấy "phò lắm" em mà lấy nó em sẽ khổ! Nghe lời chị tôi phăng teo luôn. Loài người có hàng tỉ đôi, muôn nẻo đường tình chẳng ai giống ai.


Công việc ngày càng nhiều. Bây giờ tôi đã là tay dao, tay kéo thành thạo. Nhưng mỗi lần bước vào phòng mổ là tôi lại nhớ đến lời anh Rạng nói "bàn mổ là trận địa, cứu được bệnh nhân là thắng trận, thiếu trách nhiệm làm bệnh nhân chết, pháp luật khó bỏ tù nhưng lương tâm thì dằn vặt". Nghe anh nói thật chí lý. Thảo nào trước đây, anh chuyên bắt tôi mổ chó. Có lần anh còn bảo "mổ chó mà chó chết đừng có mơ ăn thịt. Thịt chó sấy khô dùng để nấu cháo chăm sóc anh em thương binh". Đêm ấy khuya lắm, tôi chìm trong giấc ngủ chập chờn đợi đến sự kiện đêm mai.


Và điều mong đợi của tôi từ hôm qua đã đến. Trong hội trường nhà hầm, tịnh không có một đấng mày râu nào ngoài anh Rạng. Trạm vừa được trang bị một âm li, micro, ánh đèn măng sông làm hội trường sáng hơn.

- Đến giờ rồi, mời thị mẹt vào để tiến hành làm việc! - Anh nói qua micro. Tôi ghét nghe cách nói đó của anh. Ai lại gọi chị em là thị mẹt bao giờ. Nghe mà tức lộn cả ruột lên. Mà lão này cũng lạ, chiến tranh ác liệt là vậy, cái chết cái sống nhập nhèm chẳng biết đâu mà lần thế mà cứ đùa khơi khơi ra vậy. Tôi nghĩ bụng và bước vào hội trường. Trên bục chủ tọa có hai phó trạm cùng chị Thuỷ đang bế thằng cu sáu tháng tuổi trong lòng.

- Thưa các đồng chí! Ních-Xơn vừa lên làm Tổng thống Mỹ đã đề ra chiến lược lấy thịt đè người, tiến hành "Lào hoá chiến tranh". Trước đòi hỏi của tình hình, trạm xá ta sẽ được nâng cấp thành bệnh viện tiền phương ở Lào. Việc lớn đó bàn sau. Hôm nay, chúng ta bàn nhau xem làm thế nào để đưa hoàng tử của chúng ta về Việt Nam cho an toàn. Trong số những chị em nữ, có ai xung phong đưa hạt giống Lào về đất Việt sống ở trại thương binh. Ngày mai có ô tô lên đổ hàng y tế thì về luôn. Các chị em ai cũng nghĩ về hậu phương có nghĩa là về "phía sau" thì hèn quá, nên tất cả im lặng, sự im lặng làm không khí hội trường như lắng lại, nặng nề hơn. Biết là các chị em chẳng ai xung phong, anh Rạng nói luôn, giọng anh phá vỡ sự im lặng.

- Nếu không ai xung phong thì tôi chỉ định đồng chí y tá Nguyễn Thu Thuỷ sẽ đưa thằng cu về trại thương binh. Hai mẹ con sống... với nhau! - Anh nói nghẹn ngào, ứa nước mắt. Bên dưới chúng tôi im lặng, nhìn nhau. Anh nói tiếp:

- Các đồng chí. Chúng ta sắp chia tay hai mẹ con đồng chí ấy rồi! - Anh nói và bước đến chỗ chị Thuỷ đang ngồi ôm thằng bé trong lòng, dang tay ôm lấy thằng cu, mới gần sáu tháng tuổi, nó chưa biết chuyện gì đang xảy ra. Mắt trong, môi cười như một thiên thần. Nó đâu có biết ngày mai nó sẽ rời xa những vòng tay của anh em trong trạm, rời xa đất Lào về với đất Việt.

- Về Việt Nam, con hãy sống với mẹ Thuỷ nhé. Bố đặt tên con là Phà Nừng nhé! Anh em có nhất trí đặt tên nó là Phà Nừng không?

- Nhất trí... Nhất trí... bên dưới chúng tôi đồng thanh hô, tiếng vỗ tay râm ran như muốn át đi tiếng khóc thút thít của ai đó phía cuối hội trường. Mọi việc vậy là đã ổn.

Đêm nay tôi ôm Phà Nừng ngủ, hôn lên cặp má bầu bĩnh, và cái mũi tin hin dễ thương của nó, làn da nó mát rượi. Từ ngày mai tôi sẽ phải xa nó, đêm nay ôm con trong lòng tôi chỉ mong sao nó đái dầm ra người tôi một lần nữa. Giả sử nó có đái ra thì tôi cứ để yên đó. Như biết quãng đường ngày mai hai mẹ con phải đi qua. Phà Nừng ngoan ngoãn ngủ ngon lành trong vòng tay tôi. Sáng hôm sau, chị Thuỷ bế Phà Nừng đi chơi khắp nơi, khi bế Phà Nừng vào chùa chào sư thầy, sư thầy đeo vào cổ Phà Nừng sợi dây chuyền bạc có hình đức Phật, thắt vào cánh tay nhỏ xíu, mịn màng của nó sợi chỉ màu đỏ... Giờ chia tay đã đến, chúng tôi chia tay nhau bịn rịn lưu luyến. Tôi lẽo đẽo theo sau hai mẹ con Phà Nừng đến xe ô tô. Phía sau, anh Rạng đứng lặng người nhìn theo dáng xiêu xiêu của hai mẹ con chị trong bóng chiều. Chị Thuỷ hai khóe mắt đỏ hoe, nói nghẹn ngào: "Em ở lại mạnh khoẻ, công tác tốt! Thay chị chăm sóc anh Rạng...". Tôi im lặng nhìn chị rồi khẽ gật đầu, tôi ôm hôn Phà Nừng, cảm giác yêu thương cồn cào trong lòng. Đợi những vầng lá ngụy trang trên chiếc xe chở hai mẹ con chị Thuỷ lẫn vào tán lá rừng xanh biếc, tôi và anh Rạng mới quay trở về trạm. Tôi nghe như văng vẳng đâu đó câu nói của chị Thuỷ "thay chị chăm sóc anh Rạng nhé". Trời chiều dường như tím lại.


Nửa năm sau, trong dịp về nước tập huấn nghiệp vụ, tôi đến trại điều dưỡng tìm chị Thuỷ. Theo hướng chỉ của mọi người tôi đã tìm ra phòng ở của hai mẹ con chị. Cửa mở, trước mắt tôi là một người đàn ông đang cầm tay Nừng.

- Xin lỗi, anh cho hỏi đây có phải phòng chị Thuỷ không ạ?

- Phải, đúng đấy... chị là! - Người con trai mặc quần đùi, để lộ cẳng chân trái nhăn nhúm vì những vết sẹo chằng chịt.

- Nừng... Nừng à... Mẹ đây! Mẹ đây... Tôi véo yêu vào má thằng cu, nó có vẻ sợ người lạ nên rụt rè mếu máo, trông mặt nó thật đáng yêu.

- Chị là Vân, bác sĩ vừa ở chiến trường Lào về...? - Người đàn ông bế Nừng trên tay quay sang hỏi tôi.

- Vâng ạ, sao anh biết?

- Thuỷ nói nhiều về Vân. Thuỷ mới gửi thư báo cho Vân biết là bọn mình sắp cưới nhau. Mình là Ngọc cùng học với Thuỷ hồi cấp ba, lính trinh sát, dính mìn bên Lào, một chân nát bấy. Vân thấy đấy... À mà kể lể nhiều quá. Vân bế cháu nhé, mình đi gọi cô ấy về....

Tôi bồng cu Nừng trong tay, mới có mấy tháng xa "con" mà nó đã cứng cáp lên nhiều, lúc đầu nằm trong tay tôi nó còn lạ hơi nên quẫy đạp, sau rồi tôi vỗ về như trước kia vẫn làm với nó thì như đã nhận ra người cũ, nó nằm im trong tay tôi. Hai mẹ con tôi đang chơi với nhau thì mẹ Thuỷ của nó về. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, ứa nước mắt. Gần nửa năm trời xa nhau, biết bao nhiêu chuyện muốn nói. Đêm ấy, hai chị em chong màn tâm sự tới tận khuya. Chị nói anh Rạng cũng có cảm tình với chị, nhưng chiến tranh mà, với lại chị đã yêu anh Ngọc rồi! Em ở bên anh Rạng lâu ngày biết đâu ngọn lửa tình lại bùng cháy. Tôi nghe chị nói vậy mà thấy bồi hồi nhen nhóm trong tim. Cũng trong dịp ấy tôi được đi dự đám cưới của anh chị.


Cứ như định mệnh, những gì chị Thuỷ nói với tôi đêm hôm ấy đã trở thành hiện thực. Sau thời gian sống chiến đấu trên đất nước Lào, chúng tôi yêu nhau lúc nào không biết nữa. Chỉ thấy xa thì nhớ, ai ốm đau thì thấy xót thương. Nhiều mối tình của người lính chúng tôi đã hình thành như vậy. Thành vợ thành chồng rồi chúng tôi cùng chuyển về bệnh viện Quân khu. Chúng tôi có hai con trai, một con gái. Rồi đất nước hoà bình, non sông thu về một mối. Từ những cuộc chiến triền miên. Nhân dân hai nước Việt - Lào hăm hở bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Đồng đội năm xưa mỗi người mỗi ngả. Không gặp nhau nhưng trong nỗi nhớ vẫn còn như mới hôm qua, hằng đêm ngủ mơ vẫn thấy những đồng đội thân thương của mình đang ở bên cạnh. Vợ chồng anh Ngọc và chị Thuỷ về quê làm ăn ra sao tôi cũng không được biết. Công cuộc mưu sinh cứ cuốn lấy chúng tôi trong vòng xoáy nhọc nhằn cơm áo gạo tiền.


Một ngày đầu xuân 1994, sau chuyến vi vu dã ngoại cả tháng trời trong thời gian nghỉ đợi chờ sổ hưu, anh Rạng trở về nhà, trên vai ngoài túi hành trang quần áo chuẩn bị trước lúc đi anh còn mang theo về một ba lô nặng trịch. Mở ra tôi mới phát hiện đủ các loại lá thuốc:

- Sau này về, hai vợ chồng mở phòng khám tư. Đông tây y kết hợp em ạ.

Anh nói, rồi đưa cho tôi một phong thư:

- Đây, quà đây này! Của kiều Thuỷ gửi cho thị mẹt Vân đây! - Giọng anh hăm hở, niềm vui hiện rõ trên ánh mắt, rồi anh đi tắm.

Tôi bồi hồi mở thư ra xem, những nét chữ của chị Thủy. Tôi đọc ngấu nghiến như hồi còn ở chiến trường vẫn mong mỏi từng trang thư nhà.

... Chị mừng vì được biết gia đình em hạnh phúc, các con học giỏi chăm ngoan. Còn chuyện của chị thì dài lắm. Ra quân về quê, trên vùng đất chó ăn đá, gà ăn sỏi, làm cật lực chăng đủ sống. Hồi đầu chúng mình sống củng vất vả lắm, lại thêm Phà Nừng luôn đau ốm. Nhưng rồi không phụ công mình và anh Ngọc, nó đã khỏe mạnh, lớn khôn. Bây giờ cháu đã là một kỹ sư lâm nghiệp rồi. Bọn mình đang chuẩn bị trong năm nay sẽ đưa Phà Nừng về bên ấy, cho cháu tìm gặp gia đình, và cũng là để vợ chồng mình trở lại nơi chiến trường xưa - nơi cả tuổi thanh xuân chúng mình đã gắn bó thủy chung chiến đấu cùng đồng đội và các bạn Lào. Nơi đó, những người lính tình nguyện chúng mình đã coi như tổ quốc thứ hai vậy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn