Những người mẹ vừa là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Những người mẹ vừa là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Mẹ Văn Thị Thừa, sinh năm 1915, quê xã Duy An, huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, có chồng và 4 con là liệt sĩ. Mẹ Nguyễn Thị Rành, sinh năm 1900, quê xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, có 8 con và 2 cháu nội là liệt sĩ. Mẹ Phạm Thị Ngư, sinh năm 1912, quê xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận có 7 con là LS. Mẹ Võ Thị Nhã (tức Cưu), sinh năm 1921, quê xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ Đỗ Thị Phúc, sinh năm 1906, quê xã Phương Xá, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, trú quán, xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ Bùi Thị Thêm, sinh năm 1924, quê huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ Huỳnh Thị Tân, sinh năm 1906, quê xã Mỹ Qưới, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, có 5 con là liệt sĩ. Mẹ Doãn Thị Nghiệp, sinh năm 1925, quê xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, có 2 con thì cả 2 là liệt sĩ; bản thân mẹ cũng là liệt sĩ (Bằng Tổ quốc ghi công số 2Z 036b). Mẹ Mai Thị Út, sinh năm 1913, quê xã Mỹ Hanh Trung, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; trú quán xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, có chồng và 2 con là liệt sĩ. Mẹ Nguyễn Thanh Tùng (tức Nguyễn Thị Điểm), sinh năm 1941, quê xã Phú Thọ Hòa, quận Tân Bình; trú quán nhà 61B, Ký Con, phường Nguyễn Thái Bình, quận I, thành phố Hồ Chí Minh, có chồng và 2 con là liệt sĩ...



