NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO KHỞI NGHĨA Ở NAM KỲ NGÀY 23/11/1940
Tháng 6/1940, nước Pháp bị quân đội Đức Quốc xã xâm lược và chiếm đóng. Nhân cơ hội này, tháng 9/1940, đế quốc Nhật Bản xâm lược bán đảo Đông Dương từ tay Pháp. Từ đây, Việt Nam bị hai thế lực cùng thống trị là thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Đảng Cộng sản Đông Dương nêu cao khẩu hiệu: “Không một tên lính, không một đồng xu cho chiến tranh đế quốc” và đã được nhân dân tích cực hưởng ứng nên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng phát triển
Ngày 20/11/1940, Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ cho họp khẩn cấp, quyết định cho tất cả các nơi nổi dậy. Ngày 21/11/1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp, cuộc khởi nghĩa sẽ bắt đầu vào lúc 24 giờ khuya ngày 22/11/1940, đó là ngày cuối tháng không trăng, trời tối, địch dễ lơ là, mất cảnh giác, có lợi cho ta khi nổi dậy. Cả Nam Bộ rạo rực không khí chuẩn bị. Nhiều cuộc biểu tình nổ ra giữa ban ngày. Có nơi, khi bọn mật thám kéo đến bắt cán bộ, nhân dân nổi trống, mõ uy hiếp, đánh tháo. Các đội tự vệ, du kích dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu phát triển ngay ở những xí nghiệp lớn ở Sài Gòn như Ba Son, nhà đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ… ở nông thôn phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Làng nào cũng có lò rèn ngày đêm sản xuất vũ khí. Nhân dân góp nồi đồng, mâm thau, lư hương để du kích đúc đạn. Phong trào chống chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu không một người lính, không một đồng xu cho đế quốc diễn ra sôi nổi trong nhân dân và binh lính.
Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra từng nơi trong các tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu… Ở những nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa thì phụ nữ làm liên lạc, tiếp tế, cứu thương, tham gia lực lượng vũ trang cướp chính quyền. Nhiều chị em phụ nữ đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy các cuộc khởi nghĩa ở một số địa phương, cụ thể như sau:
1. Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Bảy (1912-1941), Tỉnh ủy viên Tỉnh Chợ Lớn, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc, chỉ huy khởi nghĩa Nam Kỳ tại Cần Giuộc (Long An).
Bà sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, mồ côi mẹ, làm nghề đốn củi ở Rừng Sác để kiếm sống. Bà lập gia đình với người đàn ông tên Ớt, cũng là người đốn củi ở Rừng Sác. Cả hai đều tham gia cách mạng và được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trong công tác, bà luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ nên đã được tín nhiệm vào công tác tại Quận ủy Cần Giuộc, Tỉnh ủy Chợ Lớn. Khi chuẩn bị khởi nghĩa, bà được phân công chỉ đạo các lực lượng cách mạng ở 3 xã: Phước Lai, Long Đức Đông, Long Hậu Tây. Lực lượng khởi nghĩa đã sẵn sàng, đến thời giờ khởi nghĩa bắt đầu, lực lượng cách mạng do Bà lãnh đạo đã xông vào chiếm đồn, lấy súng, phá tề, lập chính quyền cách mạng, đến ngày 26/11, lực lượng của ta đã làm chủ được tình hình.
Nhưng đến ngày 27/11 thì Pháp đưa lính lê dương xuống đàn áp, đốt nhà, bắt người, giết dân. Lực lượng du kích đã chống trả suốt 15 ngày nhưng sau đó phải rút về Rừng Sác để bảo tồn lực lượng. Ngày 26/12/1940, trong lúc đi công tác về đến bến đò Rạch Dừa, Bà đã bị giặc bắt và tra khảo rất dã man nhưng không khai thác được tin tức gì và Bà bị tòa án quân sự kết án tử hình. Đến ngày 5/4/4941, Pháp đã xử bắn Bà tại sân banh Cần Giuộc. Trước lúc mất, Bà đã nói với đồng bào Cần Giuộc “Đồng bào hãy tiếp tục đấu tranh đánh đế quốc Pháp giành lại độc lập dân tộc. Kỳ này khởi nghĩa thất bại, kỳ sau nhất định thành công”.


