Người có công giúp đỡ cách mạng

Những người tôi chưa từng gặp

Gia đình tôi là một phần nhỏ trong lịch sử kháng chiến tại Quảng Trị, nơi ông bà nội kiên cường tham gia cách mạng, dù bị bắt và tra tấn vẫn không khuất phục. Ba tôi khi mới 17 tuổi đã rời nhà ra chiến trường, chịu mất mát khi ông nội hy sinh và bản thân trở thành thương binh năm 1975. Tôi sinh ra trong hòa bình, chưa từng gặp ông bà, nhưng luôn khắc ghi những hy sinh ấy để tiếp tục con đường của mình bằng việc học ngành Y.

Đà Nẵng08/05/2026Lê Huỳnh Bảo An (Trường Đại học Kỹ thuật Y-dược Đà Nẵng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những người tôi chưa từng gặp

Tôi sinh ra và lớn lên tại Thành phố Hồ Chí Minh, một nơi nhộn nhịp với những dòng xe đông đúc, những ánh đèn sáng rực về đêm và nhịp sống luôn vội vã. Tuổi thơ của tôi trôi qua trong sự bình yên của những ngày đến trường, những buổi tối quây quần bên gia đình và những ước mơ rất đỗi bình thường của một đứa trẻ. Tôi chưa từng biết chiến tranh là gì, chưa từng nghe tiếng bom rơi hay chứng kiến cảnh chia ly mất mát. Nhưng từ khi còn nhỏ, tôi đã lớn lên cùng những câu chuyện về gia đình mình – những câu chuyện khiến tôi hiểu rằng cuộc sống bình yên hôm nay không tự nhiên mà có.

Ông bà nội tôi đều đã mất trước khi tôi ra đời, vì vậy tôi chưa từng có cơ hội được gặp, được nghe ông kể chuyện hay được bà ôm vào lòng như nhiều người khác. Những gì tôi biết về ông bà chỉ là qua lời kể của ba và những người thân trong gia đình, cùng một vài tấm ảnh cũ đã ngả màu theo năm tháng. Mỗi lần nhìn vào những bức ảnh ấy, tôi luôn tự hỏi họ đã sống như thế nào, đã trải qua những điều gì để có thể đi qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy.

Gia đình ông bà tôi vốn chỉ là một gia đình bình nông ở vùng quê Hải Lăng, Quảng Trị. Cuộc sống khi ấy vốn đã khó khăn, nhưng khi đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, ông bà tôi không chọn đứng ngoài. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ông nội tôi tham gia Trung đoàn 95 của Bình Trị Thiên, còn bà nội tôi là cơ sở cách mạng cho cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật tại địa phương.

Năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt, bà nội tôi bị địch bắt giam tại lao Thừa Phủ, Huế. Trong suốt một tháng bị giam cầm, bà bị tra tấn dã man để ép khai ra thông tin về lực lượng cách mạng. Tôi không thể hình dung một người phụ nữ nông dân nhỏ bé đã phải chịu đựng những gì trong khoảng thời gian ấy. Nhưng điều khiến tôi khâm phục nhất là dù đau đớn và kiệt sức, bà vẫn không khai báo bất cứ điều gì. Sau khi không khai thác được thông tin, địch thả bà về. Trở về với thân thể đầy thương tích, bà vẫn tiếp tục làm cơ sở cách mạng như chưa từng có gì xảy ra.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt, nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Từ năm 1955 đến 1972, ông bà tôi tiếp tục hoạt động cách mạng, âm thầm hỗ trợ lực lượng cách mạng tại quê nhà. Năm 1969, vào giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, bà nội tôi một lần nữa bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam tại nhà lao Hải Lăng, Quảng Trị. Lần này, bà lại tiếp tục bị tra tấn vô cùng dã man. Họ cố moi móc thông tin từ bà nhưng vẫn thất bại. Đến khi bà gần như kiệt quệ, họ mới thả bà về. Vậy mà sau tất cả, bà vẫn không từ bỏ con đường mình đã chọn.

Đầu xuân năm 1972, ba tôi khi ấy mới 17 tuổi, vừa học xong lớp đệ tứ – tương đương lớp 9 ngày nay. Ở độ tuổi mà đáng lẽ chỉ cần lo chuyện học hành, ba đã quyết định rời gia đình, thoát ly lên rừng tham gia cách mạng và gia nhập giải phóng quân, thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam, đóng quân tại mặt trận Hải Lăng, ngay trên chính quê hương mình.

Quảng Trị năm 1972 là một vùng đất đỏ lửa. Bom đạn cày nát ruộng đồng, làng mạc và cả những mái nhà bình dị. Tháng 3 năm 1972, gia đình tôi hứng chịu một trận bom B52 dữ dội. Nhà cửa bị tàn phá, ông nội tôi bị thương nặng. Tin dữ nhanh chóng được báo về đơn vị của ba. Tôi luôn nghĩ đến cảm giác của ba khi nhận được tin đó giữa chiến trường – biết cha mình đang nguy kịch nhưng không thể chạy về bên cạnh. Ông nội được đưa ra tuyến sau điều trị, nhưng chỉ một tháng sau thì mất vì vết thương quá nặng.

Ba tôi đã không kịp nhìn mặt cha lần cuối.

Đó có lẽ là nỗi đau mà chiến tranh để lại, không thể nhìn thấy bằng mắt nhưng sẽ theo một con người suốt cả cuộc đời.

Dù mất cha, ba tôi vẫn tiếp tục chiến đấu. Tháng 1 năm 1975, ba tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam. Trong một trận đánh ngày 10 tháng 3 năm 1975 tại Lam Thủy, ba tôi bị thương và sau đó trở thành thương binh. Dấu tích chiến tranh để lại trên cơ thể ba không chỉ là thương tật, mà còn là ký ức về một thời tuổi trẻ được đánh đổi bằng máu và mất mát.

Tôi sinh ra nhiều năm sau chiến tranh, trong một đất nước hòa bình và một thành phố chưa từng nghe tiếng bom rơi. Tôi được sống, được học tập và được mơ về tương lai của mình. Càng lớn lên, càng nghe nhiều hơn về câu chuyện gia đình, tôi càng hiểu rằng nền độc lập, tự do mà chúng ta có hôm nay là thành quả của biết bao hy sinh từ cả một dân tộc. Trong đó, có cả một phần rất nhỏ nhưng đầy tự hào của gia đình tôi.

Có lẽ vì vậy mà tôi chọn học ngành Y. Tôi không phải cầm súng như ông bà và ba năm xưa, nhưng tôi tin rằng mỗi thế hệ đều có cách riêng để tiếp nối truyền thống gia đình. Nếu ông bà và ba đã cống hiến tuổi trẻ để bảo vệ đất nước, thì tôi mong mình có thể dùng kiến thức và trách nhiệm của một người làm y để bảo vệ sức khỏe và sự sống cho mọi người.

Tôi chưa từng gặp ông bà nội của mình. Nhưng tôi tin rằng họ vẫn luôn hiện diện trong câu chuyện của gia đình, trong ký ức của ba, và trong chính con đường mà tôi đang bước đi hôm nay. Có những con người rời đi trước khi ta kịp biết họ là ai, nhưng những gì họ để lại sẽ mãi là một phần không thể mất đi.

Và tôi hiểu rằng, mình chính là người tiếp nối câu chuyện ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn